CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VÀ ĐỘNG LỰC 1. Bối cảnh nghiên cứu Quản lý việc giữ chân nhân viên có triển vọng được coi là phương tiện cơ bản để đạt được lợi thế cạnh tranh giữa các tổ chức (Walker, 2001). Trên thực tế hiện nay nhiều tổ chức đang phải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng rằng những nhân viên có giá trị và kinh nghiệm rời bỏ tổ chức hàng ngày theo Praphula Kumar Jain1; Madhur Jain2; Rajendra Pamula1 (2020)., Pinkovitz, Moskal & Gray (2016) nhận định rằng: “Chi phí để thay thế một nhân viên ước tính chiếm khoảng 50% đến 150% tiền lương hàng năm của vị trí đó, với tỷ lệ cao hơn đối với nhân viên quản lý. Chi phí có thể bao gồm: chi phí tuyển dụng, đào tạo, tiệc chia tay…Vì lý do này, mọi tổ chức đều muốn kiểm soát tỷ lệ tiêu hao và duy trì nhân viên của mình thông qua các chính sách và môi trường làm việc thỏa đáng hơn.” Praphula Kumar Jain1; Madhur Jain2; Rajendra Pamula1 (2020) đã nhận định rằng: “Trong những năm gần đây, các kỹ thuật máy học chưa được sử dụng để giải quyết vấn đề tiêu hao nhân viên.
Trong khi đó, các kỹ thuật máy học được phát hiện có thể đánh giá và đưa ra dự đoán để giúp những người đứng đầu có thể đánh giá và đưa ra những định hướng giải quyết cho sự rời bỏ của nhân viên đối với công ty.” Ý tưởng cơ bản trong bài nghiên cứu này là đo lường hiệu quả của việc đánh giá nhân viên và tỷ lệ hài lòng trong công ty. Theo Praphula Kumar Jain1; Madhur Jain2; Rajendra Pamula1 (2020) cho rằng, điều này có thể giúp tổ chức đề ra những giải pháp để làm giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ việc. Công việc nghiên cứu hiện tại sẽ hữu ích cho hầu hết các công ty khi biết về mức độ hài lòng của nhân viên và thu được một số thông tin hữu ích giúp kiểm soát tỷ lệ nghỉ việc. Trong bài báo này, các kỹ thuật học máy được sử dụng trong vấn đề tiêu hao nhân viên.
Cũng theo Praphula Kumar Jain1; Madhur Jain2; Rajendra Pamula1 (2020) nói rằng, bằng cách áp dụng các kỹ thuật học máy vượt trội hơn dự đoán xác suất nhân viên có thể nghỉ việc. Phương pháp này đã giúp cho công việc nghiên cứu hiện tại hoàn thành với một mô hình dự đoán hoàn chỉnh. Cách tiếp cận mới tập trung vào học máy đã được sử dụng để tăng cường các phương pháp giữ chân khác nhau cho 13 các nhân viên mục tiêu. Ngoài ra còn có một nỗ lực trong bài báo này để làm sáng tỏ một số yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hao của người lao động và các giải pháp khả thi của họ.
Thực hiện nguyên tắc này sẽ giúp ban lãnh đạo trong việc đánh giá nhân viên và trong quá trình ra quyết định công nhận những nhân viên có giá trị sẽ rời bỏ công ty. Sử dụng phương pháp này, có thể dự đoán trước được sự rời đi của nhân viên và ban quản lý có thể thực hiện các hành động phòng ngừa. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này sẽ giúp cho các công ty: 1. Sử dụng Machine Learning để dự đoán biến nào có mối tương quan nhiều nhất đến sự hao mòn lao động trong công ty.
Đo lường những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự rời bỏ công ty của nhân viên, từ đó dự đoán được nhân viên có ý định nghỉ việc hay không. So sánh và tìm ra thuật toán tốt nhất, có kết quả chính xác nhất. Đề xuất những giải pháp để kiểm soát tỷ lệ hao hụt nhân viên. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết STT Biến Lý thuyết Hoppock (1935) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là phản ứng cảm xúc của nhân viên đối với công việc của họ. Cũng giống như bất kỳ loại hài lòng nào khác, sự hài lòng trong công việc là một năng lực mà cảm xúc có ảnh hưởng mạnh mẽ. Hiệu ứng này bao gồm những cảm xúc về sự thích thú và ác cảm. Đồng thời, sự hài lòng trong công việc có thể được định nghĩa là sự thích thú trong công việc (Izgar, 2000).
Sisek (1998) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là niềm hạnh phúc dựa trên việc tạo ra công việc với đồng nghiệp và thu được lợi nhuận từ công việc. Định nghĩa được chấp nhận phổ biến nhất của Locke (1983) giải 1 Job satisfaction thích sự hài lòng trong công việc là sự đánh giá về kinh nghiệm và bản thân công việc cũng như những cảm xúc tích cực dựa trên sự đánh giá này. Dubrin (1974) định nghĩa sự hài lòng là cơ sở của niềm vui đối với công việc. Thuật ngữ “Niềm vui” được sử dụng trong định nghĩa của Dubrin tương đương với “cảm xúc tích cực” trong định nghĩa của Locke.
Điểm chung trong các định nghĩa này là thái độ tích cực của người lao động đối với công việc. Những thái độ này có thể được chấp nhận như một dấu hiệu cho thấy sự hài lòng của nhân viên đối với công việc (Akt. 15 Sự hài lòng trong công việc có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng công việc trong tổ chức. Đó là lý do tại sao trong các tổ chức, các phương pháp và kỹ thuật khác nhau đã được sử dụng để thúc đẩy sự hài lòng trong công việc của nhân viên.
Kết quả của những nỗ lực thúc đẩy sự hài lòng trong công việc là hiệu quả làm việc của nhân viên có thể được nâng cao (Schoderbek, Cozier & Aplin, 1991; Sevimli & Iscan, 2005). Đánh giá hiệu suất của các cá nhân, và cuối cùng là các tổ chức, phải là một quy trình có hệ thống và định kỳ nhằm đánh giá hiệu suất và năng suất công việc của từng nhân viên liên quan đến các tiêu chí và mục tiêu tổ chức đã thiết lập trước (Abu-Doleh & Weir, 2007; Manasa & Reddy, 2009 ) bên cạnh các khía cạnh khác của cá nhân nhân viên như hành vi công dân tổ chức, thành tích, tiềm năng cải thiện trong tương lai, điểm mạnh và điểm yếu (Broady-Preston & Steel, 2002; 2 Last evaluation Manasa & Reddy, 2009; Muchinsky, 2006). Lý do cơ bản để sử dụng đánh giá hiệu suất hoặc ước lượng là để cải thiện hiệu suất công việc cả ở cấp độ cá nhân nhân viên và quan trọng hơn là ở cấp độ tổ chức (DeNisi & Pritchard, 2006). Một số phương pháp để đánh giá nhân viên bao gồm: quản trị theo quá trình (Management By Process), quản trị theo mục tiêu (Management By Objectives), đánh giá theo hành vi (BARS), phản hồi 360 độ,.
Number of Số lượng dự án được giao cho nhân viên theo một mốc 3 projects thời gian xác định như một quý (thời gian 3 tháng) cũng 16 ảnh hưởng đến quá trình tâm lý suy nghĩ của nhân viên (Keegan và Hartog, 2019). Số giờ trung bình hàng tháng của nhân viên trong công ty cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sự hao hụt lực lượng lao động. Số giờ trung bình hàng tháng của nhân viên cao thì mức độ công việc cũng như vai trò của họ đối với công ty cũng cao. Họ cống hiến Average 4 sức lực và chất xám gần như tuyệt đối.
Chính vì thế, monthly hours nếu công ty muốn giữ chân nhân viên để làm việc lâu dài thì buộc công ty phải đáp ứng các yêu cầu quyền lợi của họ. Nếu công ty không thể đáp ứng các điều khoản nhân viên đưa ra thì họ có thể nghỉ việc và điều này làm tăng tỷ lệ hao mòn nhân viên. Thời gian dành cho công ty là số giờ mỗi ngày nhân viên dành cho công ty. Công việc ngày càng thay đổi thành văn hóa hợp đồng ngắn hạn với nhiều giờ làm việc, cảm giác không an toàn trong công việc và suy giảm lòng trung thành của nhân viên đối với người sử dụng lao động (Cooper, 1999).
Nhiều nhân viên cảm Time spend 5 thấy họ không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và kỳ company vọng về thời gian dành riêng cho công việc được trả lương vì những cam kết chăm sóc không được trả lương của họ. Hơn nữa, họ có thể thấy mình ngày càng xa cách khỏi gia đình và các hoạt động giải trí bởi sự tăng lên của thời gian làm việc và cường độ làm việc (Lewis et al. Nếu số tai nạn xảy ra với nhân viên trong công ty mỗi 6 Work accident tháng tăng thì đồng nghĩa công ty chưa có chính sách bảo hộ lao động hiệu quả. Nguyên nhân của các vụ tai 17 nạn có thể được chia thành hai loại là hành động không an toàn và điều kiện không an toàn (Sijabat, 2014).
Trong một nghiên cứu khác, tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do thực hiện công việc phục vụ công ty, gây thương tích cơ thể hoặc rối loạn chức năng dẫn đến tử vong, mất hoặc giảm khả năng lao động, có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn (Palucci Marziale và cộng sự, 2014). Tiêu hao là sự giảm sút bình thường và không kiểm soát được của lực lượng lao động do nghỉ hưu, qua đời, ốm đau và chuyển chỗ ở. Đó là một phương pháp giảm quy mô lực lượng lao động mà ban quản lý không thực hiện bất kỳ hành động công khai nào. Nói chung tiêu hao là giảm hoặc mất nhân viên thông qua các điều kiện khác nhau.
Hầu hết nhân viên sẽ thực hiện vài lần chuyển đổi giữa các công việc trong suốt cuộc đời làm việc của họ. Những điều này có thể bao gồm thay đổi công việc 7 Attrition trong một công ty hoặc rời khỏi một công ty để nhận công việc ở một công ty khác. Trong cả hai trường hợp, nhân viên thường có ý định phát triển và nâng cao kỹ năng, trách nhiệm và thù lao, và/hoặc cải thiện “sự phù hợp” giữa kỹ năng và mong muốn của nhân viên và yêu cầu công việc (Fisher, 2004). Việc mất nhân viên của một tổ chức có thể được chia thành ba nhóm lớn: mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống, hao hụt một cách tự nhiên và nghỉ hưu (Bennisonn and Casson, 1984).
Sự thăng tiến được xác định trước trong dữ liệu do công 8 Promotion ty cung cấp và tương ứng với việc tăng bậc lương của một người. Thăng tiến là một đại diện phổ biến của 18 năng suất đối với những người lao động có tay nghề cao hơn (Brown và cộng sự, 2016; Lyle và Smith, 2014). Một doanh nghiệp thường được chia thành một loạt các bộ phận khác nhau. Mỗi bộ phận có một chức năng cụ thể trong hoạt động của doanh nghiệp.
Mỗi chức năng khác nhau này là một phần quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh.