CHƯƠNG I: TONG QUAN LL. Tẳng quan về tuyén năng licgng của tram thủy diện Các công trinh chuyển nước từ cửa nước vào tới nhà máy thuỷ điện và từ nhà my xuống hạ lưu được gọi chung là công trình dẫn nước cña trạm thuỷ điện. Tuyển các công tình dọc theo các công trinh dẫn nước vào nhà máy thuỷ điện còn được soi là tuyển năng lượng. Tuy theo điều kiện cụ thé của từng công trình mà tuy: năng lượng có thể bao gồm: cửa lấy nước, bé lắng cát, kênh dẫn nước, tuy nen dẫn nước có áp và không có áp, bể áp lực, tháp điều áp, đường ống dẫn nước áp lực, đường dẫn nước ra khôi nhà may.
Các loại nhà máy thủy điện Nha máy là công trình chủ yêu của Trạm thủy điện, trong đỏ bổ trí các thiết bị động lực: Tuabin, máy phát và các hệ thống thiết bị phụ phục vụ cho sự lâm việc bình thường của các thiết bị chính nhằm sin xuất điện năng cung cấp cho các hộ dùng điện. Loại và kết cấu nha máy phải dim bảo sự lâm việc an toàn của thiết bị và thuận lợi trong vận hành. Nhà máy thủy điện thông thường được chia thành 3 loại cơ bản: Nha máy thủy đi ngang đập, nhà máy thủy điện sau đập, nhà máy thủy điện đường dẫn LLL. Nhà máy thấy điện ngang đập Nhà máy thủy điện ngang đập được xây dụng với cột nước không quá 35+40m.
Ở đây toàn bộ hệ thông công trình tập trung trên một tuyến. Bản thân nhà. mấy là một phần của công tình dâng nước, nó thay thé cho một phần đập ding chịu áp lực nước thượng lưu. Cửa lấy nước cũng là thành phan của bản thân nhà máy.
Một đặc điểm cà in lưu ý khi thiết ké đối với nhà máy thay điện ngang đập là ma lũ cột nước công tác thường giảm, dẫn đến công suất tổ máy giảm, trong một số trường hợp nhà máy có thể ngừng làm việc. Để tăng công suất nhà máy trong. thôi kỳ mùa lũ đồng thôi giảm dp tr, hiện nay trên thể gái người ta thiết kế nhà máy thủy điện ngang đập, kết hợp xa 10 qua đoạn tổ máy, Loi dụng đồng xiét của lũ sau khi tháo qua nhà mấy lâm hạ mục nước họ lưu, tăng cột nước lâm việc của trạm thủy điện. Tuy nhiên theo tim hiểu của tác giả thi ở Việt Nam hiện nay chưa có nha 5 máy dạng này, Dây là một hướng mới phát triển các thủy điện cột nước thấp ở hạ du các sông lớn [3].
“Nhà máy thủy điện ngang đập ở nước ta điền hình là nhà máy thủy điện Thác Ba (120MW), thủy điện Chiêm Hóa (48MW), Hình 1.1: Nhà máy thủy điện ngang đập 1.2, Nhà máy thủy điện sau đập "Nhà may thủy điện sau đập thường dùng với cột nước tir 30-45m < H < 250=300m và có thể lớn hơn nữa. Nhà máy được bố tí ngay sau đập ding nước. ‘Nha máy không chịu áp lực nước phía thượng lưu, do đó kết cầu phần đưới nước và biện pháp chống thắm đỡ phức tạp hơn nh may ngang đập ding. Nếu dip ding nước là đập bêtông trong lực thì cửa lấy nước và đường ống dẫn nước, tuabin được 6 bố trí trong thân đập bêtông.
Khoảng cách giữa đập và nhà máy thường đủ để bổ trí các phòng và máy biển thể [3] ‘Ty thuộc vào cột nước công tác, nhà may thủy điện sau đập thường dòng Tuabin tâm trục, Tuabin cánh quay cột nước cao hoặc tuabin cánh chéo. Ở nhà may thủy điện sau dip phần điện thường được bé tri phía thượng lưu giữa đập và nha máy; còn hệ thống dầu nước thì bổ trí phía hạ lưu. Dạng nhà máy sau đập ở nước ta có thể kể tới điển hình như: Sơn La (2400MW), Bản Chit (210MW), Tuyên Quang (342MW), Pleikrong (100MW), Sesan 4 (360MW), Trị An (400MW), .2: Nhà máy thủy điện sau đập (htpz/baodakiak. Nhà máy thiy điện đường dẫn ‘Nha máy thủy điện đường dẫn phạm vi sử dụng cột nước rất rộng từ 2+3m đến.
1700:2000m [3] “Trong sơ đồ khai thác thủy năng kiểu đường dẫn hoặc kết hợp, nhà máy thủy điện đứng riêng biệt tách khỏi công trình đầu mồi. cứa lấy nước đặt cách xa nhà máy. Trong trường hợp công trình dẫn nước là không áp thì cửa lấy nước nằm trong thành phần của bé áp lực; trong trường hợp công trình din nước là đường him có áp thì cửa lấy nước bổ trí ở đầu đường hằm; tuy nhiễn rên thực tế nhỉ trí khác nhau, ty thuộc vào timg công tinh, Đường dẫn nước thường là đường ống áp lực. Nhà máy thủy điện đường din cổ nhiễu hạng mục công tình và nằm tập trung theo hai khu vực; khu công trình đầu mỗi gồm công trình ngăn dời trình xã lũ, công trình lấy nước và khu nhà máy nối tiếp hạ lưu bằng đường dẫn có áp hoặc không áp, Ở nước ta kiểu nha máy thủy điện đường dẫn rất phổ biến, hầu hết các nhà my nhỏ đều sử dụng đường dẫn.
Các nhà máy lớn có thể kể đến như: Huội Quảng (520MW), Bản Vẽ (320MW), A Vuong (210MW), Sông Hình (70MW).3: Nhà máy thủy điện đường dẫn ( ) 1. Các loại đường dẫn nước vào nhà máy thủy điện “Tùy theo điều kiện địa hình, điều kiện địa chất tuyển năng lượng của trạm thủy điện đường dẫn thường ding một trong hai sơ đổ sau: Sơ dé dùng kênh lẫn: Các hang mục công trình thuộc sơ đỏ nay thường dùng là cửa lay nước, kênh dẫn, b áp lực đường ông áp lực, nhà máy thủy điệ và kênh xã Sơ đồ ding đường him dẫn nước; Các hạng mục công trình thuộc sơ đỏ này thường, ding là cửa lấy nước, đường hằm dẫn nước, thấp điều áp, đường ống áp lực (hoặc cđường him áp lực cao), nhà máy thủy điện và kênh xả.1 Kênh dẫn nước. thấy điện Khi địa hình trơng đối bằng phẳng, tyén đường din ít bị chia cắt, địa chit ôn định, về mặt kinh tẾ nên sử dụng kênh dẫn nước. Kênh dẫn được ứng dung rộng ri tram thủy điện đường din khi mực nước thượng lưu thay đổi không nhiều.
Trong thực tẾ người ta chia làm 2 loại: kênh tự điều tiết và kênh không tự điều Kénh tự điều tiết: Là kiều đường dẫn hở mà độ sâu cuỗi có thé đạt đến mức: độ đốc đường mặt nước trong đường dẫn bing không, thường ding đường dẫn là kênh với mặt cắt hi thang. Khi thiết kế chọn độ dốc đấy kênh i theo trang thi chay đều, ứng với lưu lượng thiết ké qua nhà máy. Cao trình đỉnh bở kênh là nằm. ngang suốt chiều di kênh.
Khi tram thủy điện làm việc với lư lượng thết kế, đồng chảy trong kênh én định với dòng chảy đều. Khi lưu lượng qua trạm nhỏ, mực nước cuối kênh ting lên đến lưu lượng bằng không, mực nước trong kênh nằm ngang. Do vậy mã kênh tự điều tiết được lưu lượng, không cần của điều tết ở dầu kênh và không in bổ tí trin xả thửa 6 cuối kênh. Ưu điểm sm của loại kênh nay là tiết kiệm được lượng nước do không phải xã tran, mực nước cuối kênh cũng tăng khi lưu lượng nhỏ, nên giảm được tôn thất cột nước, giảm được tổn thất năng lượng.
Ngoài ra, phần dung tích nằm trên phần mặt nước dòng đều còn đồng vai trò là phần dung tích dự trữ tham gia điều tiết ngày ‘Tuy nhiên kênh nảy có nhược điểm là bờ kênh cao, tiết diện lớn do đó khi lượng đảo dip lớn. Cho nên thường chỉ ứng dụng với tuyến kênh ngắn, độ dốc tương đối nhỏ Hình 1.4: Kênh tự điều tiết a) Mat cắt đọc; b) Quan hệ mực nước và độ sâu đồng chảy trong kênh hị- độ sâu mực nước đầu kênh; h;= độ sâu mực nước cuối kênh; ọ - độ sâu chảy đều; hk — đô sâu giới hạn. ênh không tự điều tiết: Thiết kế dòng chảy trong kênh là dòng đều, ứng với lưu lượng thiết kể của trạm. Độ đốc đình bờ kênh bằng với độ đốc đây.
Do đó khỉ lưu lượng nhỏ hơn lưu lượng thiết kể, mực nước cuỗi kênh tang lên, dòng chủy trần qua tràn xa thừa. Chính vi thé mà phải thiết kế trin xả thừa ở cudi kênh và thường. đặt ở bể áp lực. Đầu kênh phải dat cửa van điều dong chảy.
Ưu điểm của loại kênh này là khối lượng đảo - đắp nhỏ. Tuy nhiên nhược điểm của loại kênh nảy là phải có trần xã thừa nên bớt mắt một phần lưu lượng qua trần. Tổn thắt cột nước lớn hơn so với kênh tự điều tiết. 3 8) Hình1, nh không tự điều tiết a) Mat cắt đọc; b) Quan hệ giữa lưu lượng và ác độ sâu trong kênh.
Đường him dẫn nước vào nhà máy thủy điện Đường him dẫn nước còn gọi là tuynen dẫn nước. Căn cứ vào chế độ thủy lực bên trong đường hằm mà chúng có thể phân thành hai loại cơ bản: đường hằm dẫn nước không dp và đường him dẫn nước có áp, Dung him không áp được ứng dụng trong các trường hợp khi mực nước rong chúng it thay đỗi Khi lựa chọn tuyến đường him phải căn cứ vào điều kiện địa hình, địa chất và điều kiện thi công. VỀ mat kinh tế, yêu cầu tuyển đường him phải ngắn nhất. Trong thực tế, do điều kiện địa hình, địa chất và điều kiện thi công, tuyến đường hằm có thể có dang gầy khúc, các đoạn nỗi với nhan được lượn cong với bán kính không nhỏ hơn 5 Lin chiều rộng tiết điện của chúng và góc ngoặt không vượt quá 60°, “Tuyển đường him dẫn nước thủy điện có th đài tới hàng chục kỉ-lô-mết Hình dạng tết diện đường him phụ thuộc vào chế độ thủy lực trong nó, điều kiện địa hình, địa chất và chế độ thủy công.
Đường him dẫn nước không áp: có nhi tiết diện khác nhau tủy theo điều kiện địa chất ma tuyến đi qua. Đường him dẫn nước có ty lệ chiều cao h va chiều rồng b khoảng hồ =l: .ố, nếu mục nước trong đường dlao động nhiễu thì tỷ số này có th lấy lớn, kích thước của nó phải đảm bảo chế độ chảy không áp trong moi điều kiện kể cả các chế độ chuyển tiếp của trạm thủy điện. Khi đường hằm xuyên qua vùng địa chất là đá rắn chắc có thể sử dụng tiết én hình chữ nhật diy bằng, tran vòm. Khi địa chất không rắn chắc lắm, áp lực đất theo phương đứng không lớn và không có ấp lực hông của đất lên vo hầm thi có thể sử đụng tiết điện với trần là nửa hình tron vv.
tường him không áp đặt ỡ đầu tuyển năng lượng " Dung him dẫn nước có áp: về nguyên tắc thường có tiết diện hình tròn.