Chương 1 đã chỉ ra tầm quan trọng của đòn bẩy tài chính và dòng tiền trong việc đảm bảo thực hiện các cam kết của doanh nghiệp đối với các chủ nợ, từ đó giảm thiểu hoặc thậm chí là ngăn chặn xảy ra KQTC; đồng thời phân tích kết hợp với các bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm, đề tài đã chỉ ra khả năng giải thích của đòn bẩy tài chính, dòng tiền cho KQTC của các doanh nghiệp, và đảm bảo đề tài khẳng định được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa 04 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian 6 năm và không gian là các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Sau khi khái quát nguồn dữ liệu và kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với phương pháp nghiên cứu định lượng, chương này đã khẳng định ý nghĩa, đóng góp của đề tài đối với nhà quản trị tài chính doanh nghiệp và các chủ thể khác.
Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát 5 chương của đề tài được chọn. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ thực hiện lược khảo các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính và dòng tiền đến KQTC của các doanh nghiệp phi tài chính, qua đó phần tiếp theo của chương này sẽ thảo luận đúc kết vấn đề nghiên cứu, xác định khoảng trống nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Cơ sở lý thuyết về KQTC doanh nghiệp KQTC xảy ra khi doanh nghiệp không đủ khả năng để thực hiện những lời hứa, cam kết với các chủ nợ hoặc có thể thực hiện nhưng lại rất khó khăn (Brealey & cộng sự, 2008). Cơ sở lý thuyết về KQTC được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong các lý thuyết sau: 2.
Lý thuyết về quản trị tiền (Cash Management Theory) Lý thuyết này đề cập trực tiếp rằng quản lý số dư tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển) trong ngắn hạn là mối quan tâm chính của mỗi doanh nghiệp. Sự mất cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra đồng nghĩa với việc chức năng quản lý tiền của doanh nghiệp bị thất bại. Sự mất cân đối kéo dài có thể gây ra KQTC cho công ty và do đó, dẫn đến thất bại. Tiền được xem là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời rất thấp (tiền gửi thanh toán nhận lãi suất không kỳ hạn), vì vậy mục tiêu của quản trị tiền là tối thiểu hóa lượng tiền nắm giữ, nhưng vẫn đảm bảo sự cân đối thu - chi của doanh nghiệp.
Tiền là tài sản cơ bản đảm bảo cho quá trình thanh toán trong quá trình hoạt động kinh doanh thường ngày như: chi trả công nợ đến hạn, chia cổ tức, chi phí thuế và các chi phí giao dịch khác. 11 Nắm giữ tiền và tài sản tương đương tiền một cách hợp lý đem lại các lợi thế sau: Có đủ khả năng thanh toán sớm hoặc đúng hạn cho nhà cung cấp để được hưởng chiết khấu thương mại. Tận dụng được các đợt mua khuyến mãi của nhà cung cấp hay giành được nhiều cơ hội kinh doanh so với các doanh nghiệp khác. Giúp doanh nghiệp duy trì được xếp hạng tín dụng tốt hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành nhờ có tỉ số thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh cao hơn.
Xếp hạng tín dụng cao tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hưởng được các điều kiện mua hàng ưu đãi hơn và duy trì được mức chi phí tín dụng thấp từ các ngân hàng. Các doanh nghiệp nên giữ tiền và tương đương tiền để đáp ứng các tình huống khẩn cấp như đình công, hỏa hoạn hay tung các chiến dịch marketing mạnh hơn so với đối thủ, và những lúc chu kì kinh doanh đi xuống do tính thời vụ hay do sự suy thoái của nền kinh tế. Lý thuyết về sự ưa thích thanh khoản (Liquidity Preference theory) Tính thanh khoản là khả năng nhanh chóng và dễ dàng chuyển tài sản thành tiền mà không ảnh hưởng đáng kể đến giá trị, không chịu chi phí cao và không tốn nhiều thời gian. Ví dụ, chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu,…có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu.
Các cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là: tính lỏng, tính lưu động. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi thị trường có nhiều người mua và người bán. Một tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn. Tài sản có tính thanh khoản càng cao thì mức độ rủi ro càng thấp.
Như vậy, tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển,…) có 12 tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được trực tiếp để thanh toán, lưu động, tích trữ. Lý thuyết này của Keynes (1936) cho rằng doanh nghiệp có ba động cơ nắm giữ tiền là giao dịch, dự phòng và đầu cơ. Theo đó, doanh nghiệp cần duy trì tiền và tài sản có tính thanh khoản cao để đáp ứng các nhu cầu giao dịch đến hạn, nhằm giảm thiểu nguy cơ kiệt quệ tài chính. Tài sản có tính thanh khoản cao đảm bảo khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn cũng như các chi phí hoạt động tức thời.
Ngoài ra, tài sản có tính thanh khoản cao đóng vai trò bảo vệ doanh nghiệp khỏi các sự kiện bất lợi không lường trước được như suy thoái kinh tế hoặc sự sụt giảm đột ngột về nhu cầu đối với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có nhiều tài sản có tính thanh khoản kém sẽ cần vay thêm nợ, huy động thêm vốn chủ sở hữu hoặc nghiêm trọng hơn nữa sẽ phải bán bớt tài sản cố định để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn của mình nhằm đảm bảo thực hiện đúng các cam kết với chủ nợ. Việc vay nợ trong kỳ này sẽ tạo ra áp lực trả nợ trong các kỳ tiếp theo nếu tài sản thanh khoản của doanh nghiệp vẫn chưa được cải thiện. Huy động thêm vốn chủ sở hữu là không dễ dàng và ít khả thi vì công ty phải gánh chịu chi phí sở dụng vốn cao do nhà đầu tư phải gánh chịu rủi ro cao hơn so với các chủ nợ nên nhà đầu tư sẽ đòi hỏi suất sinh lời cao.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, tài sản cố định là nền tảng, là cơ sở, phương tiện cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu tài sản cố định bị bán bớt hoặc thanh lý sẽ khiến doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô hoạt động, giảm sức cung ứng, dẫn đến phải thu hẹp quy mô hoạt động, mất thị phần, vị thế trong ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng dẫn đến hạn chế khả năng tạo ra doanh thu, lợi nhuận. Một công ty có nhiều tài sản có tính thanh khoản cao và ở mức hợp lý sẽ có thể dễ dàng thanh toán cho các chủ nợ mà không cần phải thanh lý các tài sản cố định cần thiết để duy trì hoạt động kinh doanh. Lý thuyết đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời (Liquidity and Profitability Trade-off Theory) Lý thuyết này do Smith (1980), một trong những người đầu tiên nghiên cứu đánh đổi giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời trong quản lý vốn lưu động, đề xuất.
Lý thuyết này nói rằng việc duy trì tính thanh khoản thích hợp bằng các tài sản có tính thanh khoản cao nhằm sẵn sàng thanh toán cho các nghĩa vụ nợ ngắn hạn dẫn đến ngân quỹ (tiền) không có sẵn để sử dụng cho hoạt động khác hoặc cho các mục đích đầu tư dài hạn đem lợi nhuận cao hơn. Vì vậy, tồn tại một chi phí cơ hội liên quan đến việc duy trì những tài sản lưu động để đảm bảo chi trả cho các cam kết đến hạn và điều này có thể ảnh hưởng không tích cực đến khả năng sinh lời tổng thể của công ty. Thanh khoản và khả năng sinh lời là hai khía cạnh quan trọng về sức khỏe của công ty. Triển vọng ngắn hạn của một công ty được đánh giá dựa trên tính thanh khoản, bởi vì nó xác định khả năng của công ty trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn (Siegel & Shim, 2000).
Quản lý thanh khoản có vai trò vô cùng quan trọng vì mặc dù mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận và hướng đến tối đa hóa giá trị tài sản dành cho cổ đông, được thể hiện bằng khả năng sinh lời nhưng nếu doanh nghiệp không thể hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đến hạn thì sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính và việc duy trì sự tồn tại để tạo ra lợi nhuận nhằm tối đa hóa giá trị tài sản dành cho cổ đông là bất khả thi. Theo Eljelly (2004), ngay cả trong những thời điểm thuận lợi, quản lý thanh khoản cũng quan trọng, và nó càng trở nên quan trọng hơn trong những thời điểm suy thoái kinh tế. Mặc dù tính thanh khoản thực sự quan trọng đối với một công ty, theo Fraser (1998), thanh khoản và quản lý tiền là các kỷ luật bắt buộc cần có trong doanh nghiệp nhưng thường bị hiểu sai và bỏ qua do quá chú trọng vào khả năng sinh lời. Tính thanh khoản rất quan trọng trong ngắn hạn, một công ty càng có tính thanh khoản cao thì khả năng không thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn càng thấp, tức là rủi ro KQTC thấp.
Tính thanh khoản có ý nghĩa sống 14 còn đối với sự tồn tại của một công ty. Do đó, nhà quản lý cần phải tìm ra sự cân bằng phù hợp giữa tính thanh khoản để đảm bảo khả năng chi trả, thanh toán nghĩa vụ nợ của một công ty cũng như duy trì khả năng sinh lời để mang lại lợi nhuận thực cho cổ đông của mình (Shin & Soenen, 1998).