Luận Văn Thạc Sĩ: Phân Tích Đối Chiếu Từ Chỉ Quan Hệ Họ Hàng Trong Tiếng Hàn Và Tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ phân tích đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và tiếng Việt, khám phá sự tương đồng và khác biệt ngôn ngữ.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2011

129
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận văn

Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Từ chỉ quan hệ họ hàng (từ thân tộc)

1.1.1. Quan hệ họ hàng (quan hệ thân tộc)

1.1.2. Các loại quan hệ trong gia đình

1.1.3. Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Hàn và người Việt

1.1.3.1. Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Hàn

1.2. Cấu tạo từ

1.2.1. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong ngôn ngữ

1.2.1.1. Đơn vị cấu tạo từ trong ngôn ngữ
1.2.1.2. Phương thức cấu tạo từ trong ngôn ngữ

1.2.2. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hàn

1.2.2.1. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Hàn
1.2.2.2. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hàn

1.2.3. Đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt

1.2.3.1. Đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt
1.2.3.2. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt

1.3. Nghĩa của từ

1.3.1. Khái niệm nghĩa của từ

1.3.2. Cấu trúc nghĩa của từ

1.3.3. Phương pháp phân tích thành tố nghĩa

1.4. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa hai ngôn ngữ

1.4.1. Khái niệm về nghiên cứu đối chiếu

1.4.2. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ

1.4.3. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng

1.4.4. Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt và tiếng Hàn

1.5. Quan hệ ngôn ngữ - văn hóa và nghiên cứu từ chỉ quan hệ họ hàng từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa

2. PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CẤU TẠO TỪ CHỈ QUAN HỆ HỌ HÀNG TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

2.1. Cấu tạo từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn

2.1.1. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo đơn

2.1.2. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo ghép

2.1.2.1. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo ghép phái sinh
2.1.2.2. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo ghép hợp thành

2.2. Cấu tạo từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt

2.2.1. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo đơn

2.2.2. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo ghép

2.2.2.1. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo ghép chính phụ
2.2.2.2. Từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo ghép đẳng lập

2.3. So sánh cấu tạo từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt và tiếng Hàn

2.3.1. So sánh cấu tạo từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo đơn trong tiếng Việt và tiếng Hàn

2.3.1.1. Về tỉ lệ
2.3.1.2. Về tổ chức (kích cỡ từ)

2.3.2. So sánh cấu tạo từ chỉ quan hệ họ hàng có cấu tạo ghép trong tiếng Việt và tiếng Hàn

2.3.2.1. Về số lượng (tỉ lệ)
2.3.2.2. Về các loại mô hình
2.3.2.3. Về vị trí và chức năng của các thành tố
2.3.2.4. Về các ý nghĩa hạn định của thành tố phụ

3. PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU NGHĨA CỦA TỪ CHỈ QUAN HỆ HỌ HÀNG TRONG TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

3.1. Phân tích nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và tiếng Việt (bằng việc phân tích thành tố nghĩa hay nét nghĩa)

3.1.1. Phân tích nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn

3.1.2. Phân tích nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt

3.1.3. So sánh các loại nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và tiếng Việt

3.2. Phân tích đối chiếu nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng tiếng Hàn và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ và văn hóa

3.2.1. Đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh thể hiện qua ngữ nghĩa của từ

3.2.2. Đặc trưng văn hóa dân tộc của việc định danh qua ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng

3.2.2.1. Đặc trưng văn hóa dân tộc Hàn của việc định danh qua ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng
3.2.2.2. Đặc trưng văn hóa dân tộc Việt qua việc định danh theo ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng

3.2.3. So sánh đặc trưng văn hóa dân tộc Hàn - Việt của việc định danh qua ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Bảng tổng hợp các nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn

Bảng nét nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt

Phụ lục 3: Luận văn sử dụng ký hiệu phiên âm Latin mới ban hành tại Hàn Quốc theo bảng sau:

Phụ lục 4: Sáu hệ thống thân tộc thuộc sáu nhóm ngôn ngữ với cách dùng từ chỉ quan hệ họ hàng khác nhau

Phụ lục 5: Những từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn

Phụ lục 6: Những từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phân Tích Đối Chiếu Từ Chỉ Quan Hệ Họ Hàng

Phân tích đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa tiếng Hàn và tiếng Việt là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Nó không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn phản ánh những đặc trưng văn hóa của hai dân tộc. Từ chỉ quan hệ họ hàng là một bộ phận từ vựng đặc biệt, thể hiện các mối quan hệ trong gia đình và xã hội. Việc nghiên cứu này giúp người học tiếp cận với cách tư duy và ứng xử của người bản ngữ.

1.1. Khái Niệm Từ Chỉ Quan Hệ Họ Hàng

Từ chỉ quan hệ họ hàng, hay còn gọi là từ thân tộc, là những từ ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Chúng không chỉ đơn thuần là từ vựng mà còn mang trong mình những giá trị văn hóa sâu sắc.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Đối Chiếu

Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa tiếng Hàn và tiếng Việt giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức biểu đạt và nhận thức văn hóa của hai dân tộc.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Đối Chiếu

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc phân tích đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng cũng gặp phải không ít thách thức. Sự khác biệt về ngữ pháp, văn hóa và cách sử dụng từ ngữ giữa hai ngôn ngữ có thể gây khó khăn trong việc so sánh và phân tích.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Xác Định Nghĩa

Một trong những thách thức lớn nhất là việc xác định nghĩa chính xác của từ chỉ quan hệ họ hàng trong từng ngôn ngữ. Các từ này có thể mang nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh.

2.2. Sự Khác Biệt Trong Cấu Trúc Ngữ Pháp

Cấu trúc ngữ pháp của tiếng Hàn và tiếng Việt có nhiều điểm khác biệt, điều này có thể làm cho việc đối chiếu trở nên phức tạp hơn. Cần có phương pháp nghiên cứu phù hợp để vượt qua những rào cản này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đối Chiếu Từ Chỉ Quan Hệ Họ Hàng

Để thực hiện nghiên cứu này, cần áp dụng các phương pháp phân tích cấu trúc và ngữ nghĩa. Việc so sánh các từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và tiếng Việt sẽ giúp làm rõ những đặc điểm riêng của từng ngôn ngữ.

3.1. Phân Tích Cấu Trúc Từ

Phân tích cấu trúc từ chỉ quan hệ họ hàng giúp hiểu rõ hơn về cách thức hình thành và sử dụng từ trong ngữ cảnh cụ thể của mỗi ngôn ngữ.

3.2. Phân Tích Nghĩa Của Từ

Nghiên cứu ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng sẽ giúp làm rõ những giá trị văn hóa và xã hội mà từ ngữ này phản ánh trong từng ngôn ngữ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Đối Chiếu

Kết quả của nghiên cứu này có thể được ứng dụng trong việc giảng dạy và học tập tiếng Hàn và tiếng Việt. Việc hiểu rõ về từ chỉ quan hệ họ hàng sẽ giúp người học tiếp cận ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả hơn.

4.1. Hỗ Trợ Trong Giảng Dạy Ngôn Ngữ

Nghiên cứu này có thể cung cấp tài liệu hữu ích cho giáo viên trong việc giảng dạy từ chỉ quan hệ họ hàng, giúp học viên dễ dàng nắm bắt và sử dụng.

4.2. Tăng Cường Hiểu Biết Văn Hóa

Việc hiểu rõ về từ chỉ quan hệ họ hàng không chỉ giúp người học ngôn ngữ mà còn giúp họ hiểu sâu hơn về văn hóa và phong tục tập quán của người Hàn và người Việt.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Đối Chiếu Từ Chỉ Quan Hệ Họ Hàng

Nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa tiếng Hàn và tiếng Việt không chỉ giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ mà còn phản ánh những giá trị văn hóa sâu sắc. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực ngôn ngữ học đối chiếu.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ và văn hóa, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Mới

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh khác của từ chỉ quan hệ họ hàng, từ đó làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ học và văn hóa học.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh phân tích đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng hàn và tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Mục tiêu nghiên cứu cơ bản mà đề tài đặt ra là phân tích, đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa với các nhiệm vụ cụ thể như phân tích, đối chiếu cấu tạo ý nghĩa của từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Hàn và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa. Để thực hiện tốt mục tiêu và những nhiệm vụ đó, trong chương này, chúng tôi thấy cần phải tìm hiểu một số nội dung lý thuyết có liên quan để làm cơ sở cho việc triển khai những nội dung quan trọng của luận văn. Trước hết, khái niệm và một vài nội dung có liên quan đến từ chỉ quan hệ họ hàng hay còn gọi là từ thân tộc là những nội dung đầu tiên cần đề cập đến. Để có thể triển khai chương 2, những nội dung liên quan đến lý thuyết về cấu tạo từ như đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong ngôn ngữ, đơn vị và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Hàn và tiếng Việt là những nội dung quan trọng cần tìm hiểu.

Tiếp đó, để có thể triển khai chương 3, những nội dung liên quan đến nghĩa của từ như khái niệm nghĩa của từ, cấu trúc nghĩa của từ và phương pháp phân tích thành tố nghĩa cũng là những nội dung cần tìm hiểu. Để có cơ sở thực hiện toàn bộ luận văn, một số nội dung lý thuyết khác như nghiên cứu đối chiếu nói chung và nghiên cứu đối chiếu từ chỉ quan hệ họ hàng giữa hai ngôn ngữ nói riêng, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa cũng được đề cập. Từ chỉ quan hệ họ hàng (từ thân tộc) 1. Quan hệ họ hàng (quan hệ thân tộc) Lịch sử nghiên cứu về quan hệ thân tộc đã có bề dày khoảng 2 thế kỷ.

Từ thế kỷ 19, nhà triết học - xã hội học người Đức Friedrich Engels đã tìm hiểu nguồn gốc và sự phát triển của hệ thống thân tộc. Tiếp đến, thế kỷ 20, Sigmund Freud bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của gia đình. Vào thời điểm từ 1860 đến 1920, các nhà nhân học tiên phong đã lập nên được một hệ thống bảng quan hệ thân tộc và gia đình. Từ khoảng những năm 1970 cho đến nay, người ta có nghiên cứu về các quan hệ thân tộc trong mối quan hệ với văn hóa.

Quan hệ thân tộc luôn luôn gắn liền và được bộc lộ dưới các dạng thức ngôn ngữ, vậy nên, 5 Đào Hoài Thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu quan hệ thân tộc thường gắn liền với việc nghiên cứu các danh từ thân tộc. Các loại quan hệ trong gia đình Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm như quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.

Trong quan hệ gia đình ở bất kỳ một nền văn hóa nào, theo huyết thống, có thể chia ra hai loại là quan hệ chung huyết thống và quan hệ không chung huyết thống. Quan hệ chung huyết thống là loại quan hệ “máu mủ”, “ruột thịt”. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam thì những người có họ trong phạm vi 3 đời là những người cùng một gốc sinh ra (hay gọi là cùng chung huyết thống): cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu con dì là đời thứ ba. Những người thuộc các mối quan hệ này thì bị luật pháp cấm kết hôn.

Quan hệ không chung huyết thống là quan hệ thông qua con đường hôn nhân như: quan hệ giữa bố mẹ chồng và con dâu, bố mẹ vợ và con rể, anh chị chồng với em dâu, em chồng với chị dâu, anh chị vợ với em rể, em vợ với anh rể, quan hệ giữa bố mẹ và con nuôi… đây còn gọi là quan hệ tương tự huyết thống. Đây là quan hệ giữa những người không chung huyết thống nhưng vẫn coi nhau như ruột thịt và gọi nhau bằng chính các từ thân tộc. Xét về qui mô, gia đình có thể phân loại thành: - Gia đình hai thế hệ (gia đình hạt nhân) là gia đình bao gồm cha mẹ và con cái chưa lập gia đình; - Gia đình ba thế hệ (gia đình truyền thống) là gia đình bao gồm ông bà, cha mẹ và con cái còn được gọi là tam đại đồng đường; 6 Đào Hoài Thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Gia đình bốn thế hệ trở lên là gia đình nhiều hơn ba thế hệ, còn gọi là tứ đại đồng đường. Xét về khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể phân chia gia đình thành hai loại: - Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyền thống.

Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà. Dạng cổ điển của gia đình lớn là gia đình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ. Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những người lẻ loi (những người không lập gia đình hay sống đơn thân). - Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) bao gồm chồng, vợ và các con chưa trưởng thành.

Gia đình nhỏ là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển. Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Hàn và người Việt a, Quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Hàn Hình thái và phương thức tạo nên gia đình có sự khác nhau theo từng xã hội, từng nền văn hóa và từng thời đại. Ở Hàn Quốc, gia đình có nghĩa là “một tập thể huyết thống cùng sống, cùng ngủ dưới một mái nhà và cùng ăn chung một nồi cơm” [53]. Tuy nhiên, hình thái đó hơi khác đi theo thời đại.

Đại gia đình là một hình thái gia đình truyền thống của Hàn Quốc gồm có người lớn tuổi nhất là cụ hoặc ông bà, sau đó là cha mẹ, con cái và cháu chắt cùng chung sống dưới một mái nhà. Xưa kia người Hàn Quốc quan niệm rằng gia đình có cùng huyết thống sống quây quần bên nhau hoà thuận, cùng chia sẻ việc đồng áng, niềm vui nỗi buồn là một tập tục tốt đẹp. Không những thế, cùng sống trong một đại gia đình, người trẻ tuổi có thể học hỏi và tiếp thu kiến thức cuộc sống từ những người già có nhiều kinh nghiệm sống. Đến xã hội hiện đại, mô hình gia đình phổ biến là gia đình hạt nhân.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy nhiều trường hợp con trai cả vẫn sống cùng để phụng dưỡng bố mẹ trong gia đình người Hàn Quốc. 7 Đào Hoài Thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng, nên gia đình truyền thống Hàn Quốc theo chế độ gia trưởng. Sau khi người cha qua đời, người con trai cả sẽ là người điều hành và là trụ cột trong gia đình, đương nhiên sẽ hưởng kế thừa phần lớn các tài sản có giá trị như đất đai, nhà cửa… do người cha để lại. Những người con trai thứ cũng được hưởng thừa kế nhưng chỉ là một phần so với người con trai cả.

Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Hàn tin vào cuộc sống ở thế giới bên kia sau khi chết. Theo quan niệm của họ, con người sau khi chết sẽ không đoạn tuyệt với thế giới này mà sẽ đầu thai trở lại nơi nào đó, sẽ sống cùng con cháu. Do đó, các thế hệ con cháu, nhất là những người có nhiều may mắn trong cuộc sống càng cần phải làm tròn bổn phận với những người đã mất, thực hiện chu đáo những nghi lễ giỗ tết hằng năm. Hệ thống dòng họ, thân tộc truyền thống của người Hàn được xác định chủ yếu trong mối quan hệ thờ cúng tổ tiên rất phức tạp.

Theo đánh giá của các nhà dân tộc học Hàn Quốc, tục thờ cúng tổ tiên có bốn cấp độ, bắt đầu từ phạm vi hộ gia đình và cao nhất là phạm vi thị tộc. Hộ gia đình, chỉ bao gồm vợ, chồng và con cái của họ. Trường hợp hộ gia đình đó là của người con trai cả, thì có thể bao gồm cả cha, mẹ của anh ấy. Hộ gia đình này được gọi là hộ gia đình lớn hay hộ gia đình gốc, còn hộ gia đình của những người con trai thứ gọi là gia đình nhỏ hay gia đình nhánh.

Thông qua hộ gia đình người con trai cả, sự kế thừa về quyền lợi và trách nhiệm thờ cúng tổ tiên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cấp độ thứ hai trong hệ thống thân tộc của người Hàn là nhóm những người để tang nhau, bao gồm tất cả những con cháu của ông bà tổ tiên tính theo dòng cha trong phạm vi bốn đời. Vai trò của nhóm những người để tang nhau được thể hiện rõ nhất trong việc tổ chức và thực hiện những nghi lễ ở “khu vực chôn cất” hoặc ở các nhà thờ của dòng họ. Cấp độ thứ ba trong hệ thống thân tộc của người Hàn cũng giống cấp độ thứ hai nhưng trong phạm vi năm đời.

Chi phí thờ cúng tổ tiên của dòng họ được thực hiện dựa trên những khoản thu hoạch mùa màng trên mảnh đất chung. Ngoài ra, những người trong quan hệ thân tộc ở cấp độ thứ ba còn giúp đỡ lẫn 8 Đào Hoài Thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau trong trường hợp nghèo khó, túng thiếu và giám sát các thành viên về mặt đạo đức. Cấp độ thứ tư trong hệ thống thân tộc của người Hàn đó là thị tộc, nó bao trùm tất cả các cấp độ quan hệ họ hàng, gồm họ của những nhóm người có chung nguồn gốc. Lẽ đương nhiên, tính cố kết của các thành viên ở cấp độ thứ tư không chặt chẽ bằng cấp độ thứ ba.

Do những luật lệ cứng nhắc về hôn nhân được thiết lập theo chế độ hôn nhân ngoại tộc, những người trong một thị tộc không được phép lấy nhau. Do đó, một chức năng quan trọng của thị tộc trong hệ thống thân tộc ở cấp độ thứ tư này là xác định rõ các nhóm tộc người để cho phép họ có thể thiết lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không [53].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ