CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm Hiện tại khái niệm nguồn nhân lực (NNL) vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau cụ thể: Theo tổ chức ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: “NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân. Theo quan niệm này, NNL được coi như một nguồn vốn.Sự tham gia của nguồn vốn này trong quá trình sản xuất lại không giống như vốn bằng tiền, vốn công nghệ, tài nguyên. Nguồn vốn đặc biệt này được đặt bên cạnh các loại vốn kia nhưng để khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó”. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã chỉ ra nguồn nhân lực của một quốc gia: “là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động.
Đây là một khái niệm để chỉ ra quy mô và tiềm lực của một quốc gia và đánh giá về khả năng tham gia hoạt động kinh tế để tạo ra tài sản cho xã hội của NNL trong quá trình sinh sống và xây dựng đất nước”. Các nhà khoa học khác nhau cũng có những quan điểm về NNL khác nhau.TS Phạm Văn Đức (1993, tr.25) thì: “Nguồn lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động”. Còn theo GS Phạm Minh Hạc (2001, tr.27) thì: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai”. Đối với TS.
Bùi Sỹ Lợi (2002, tr.36) thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địa phương là tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có trong một thời điểm xác định. Tiềm năng đó bao gồm thể lực, trí lực 6 và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc) của bộ phận dân số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc”. Như vậy, với mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ đưa ra một khái niệm khác nhau về NNL. Dựa trên quan điểm của các nhà khoa học đi trước, tác giả đưa ra nhận định về nguồn nhân lực một cách tổng quát như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và tâm lực.2 Tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004, tr.8) “nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực.
Sự phát triển của khoa học công nghệ, kỹ thuật ngày càng nhanh và những ứng dụng của khoa học vào sản xuất ngày càng nhiều sẽ làm cho nền sản xuất của xã hội ngày càng phát triển. Tuy nhiên, nguồn nhân lực vẫn đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất, là nguồn lực không thể thiếu trong bất kỳ một doanh nghiệp nào và cả trong phát triển kinh tế xã hội. Nhiều quốc gia giàu có và phát triển dựa vào tài nguyên để phát triển kinh tế xã hội tuy nhiên nguồn lực này cũng có hạn. Ngày nay, thế giới đang có xu hướng chuyển sang cạnh tranh bằng nguồn lực con người, đó là sử dụng nguồn nhân lực có tri thức trong cạnh tranh và nâng cao lợi thế quốc gia.
Do đó, con người và tri thức của con người là chìa khóa then chốt trong mọi hoạt động không chỉ của mỗi doanh nghiệp mà còn cả nền kinh tế. Hầu hết, trong các chiến lược phát triển, mọi quốc gia đều coi nguồn lực con người là quan trọng nhất, chú trọng giáo dục và đào tạo vì tương lai phát triển của mỗi quốc gia”. Theo Cakar và Bititci (2001) thì: “những năm 1980 là thập niên của tự động hóa, thập niên 90 dành cho con người và bằng chứng là việc đưa ra khái niệm quản lý chất lượng tổng hợp chú trọng tới phân công lao động, huy động sự tham gia, tăng cường tính sở hữu kết hợp với nhóm làm việc theo chức năng. Sáng kiến đầu tư vào con người của Anh đã đưa vai trò và tầm quan trọng của con người cũng như nhu cầu cần có những quy trình quản lý con người bền vững lên một mức cao hơn.
Vì vậy, quản lý nguồn nhân lực hết sức cần thiết nhằm tăng hiệu quả kinh doanh; nhằm quy hoạch, quản lý và nâng cao năng lực nguồn nhân lực; xác định, phát triển và duy trì kiến thức và năng lực của người lao động; khuyến khích sự tham gia và trao quyền cho 7 người lao động.Tất cả các yếu tố này đều có tác động tới kết quả kinh doanh bởi nhân lực là một loại tài sản cố định chính của doanh nghiệp. Vai trò của nguồn nhân lực trong các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong mọi lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội luôn đóng vai trò chủ chốt. Một công ty hay một tổ chức nào dù có nguồn tài chính mạnh, nguồn vật tư dồi dào với máy móc thiết bị hiện đại, cũng sẽ trở nên vô ích nếu không biết quản trị nguồn nhân lực. Có thể nói, con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức doanh nghiệp, vận hành doanh nghiệp và quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp biết cách quản lý nguồn nhân lực, đề cao vai trò và giá trị nguồn nhân lực sẽ giúp các doanh nghiệp khai thác được khả năng tiềm ẩn của nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động và tạo ra lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực”.3 Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nghiên cứu về chất lượng NNL có nhiều, nhưng các nghiên cứu đó đều không chỉ ra một cách cụ thể việc đánh giá về chất lượng NNL cần phải sử dụng các tiêu chí nào, để NNL có chất lượng thì cần các điều kiện gì. Cũng chính vì thế, chất lượng NNL có nhiều cách hiểu khác nhau, thường hay đánh đồng chất lượng NNL với trình độ chuyên môn và trình độ văn hóa của NNL. Nhưng trình độ chỉ là một yếu tố thể hiện chất lượng NNL, vì vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng NNL. Theo Nguyễn Tiệp (2005, tr.10) thì “chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống của dân cư”.
Bùi Văn Nhơn (2006) cho rằng: “chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc”. Theo Phùng Rân – Hiệu trưởng trường CĐ Viễn Đông, TP. HCM với bài viết: chất lượng NNL, bài toán tổng hợp cần có lời giải đồng bộ thì: “chất lượng nguồn nhân lực được đo bằng hai tiêu chí: năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực đó.
Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc, được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và người thực hiện, kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực thể hiện nhân cách con người được đánh giá qua thái độ hay ý thức, phong cách làm việc, sự ứng xử giữa những người lao động trong nội bộ tổ chức với nhau và với các đối 8 tượng hữu quan bên ngoài, khả năng kết hợp làm việc trong nhóm, sự tập trung trong nhiệm vụ chuyên môn, văn hóa nơi làm việc”. Vũ Thị Ngọc Phùng (2006, tr.4) cho rằng: “Chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ. Cho dù là NNL trong một tổ chức hay của toàn xã hội thì chất lượng NNL được đánh giá trên các tiêu chí như trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực) như vậy các tiêu chí này được định lượng và đo lường một cách rõ ràng”.
Mai Quốc Chánh (2000, tr.36) thì “Chất lượng NNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất”. Còn theo Trung tâm phát triển nguồn nhân lực thì “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực, trong đó trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá phân loại chất lượng nguồn nhân lực[35,77]. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách là một khách thể vật chất đặc biệt, đồng thời là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người”. Theo Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2007, tr.18) thì “Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội”.