Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIỆC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài Công nhận và cho thi hành PQTTNN có nghĩa là thừa nhận giá trị pháp lý và áp dụng các biện pháp qui định của pháp luật để thực hiện Phán quyết Trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ của nước mà bên yêu cầu được thi hành. Song song đó, khái niệm “phán quyết trọng tài nước ngoài” là khái niệm đóng vai trò chủ đạo cho toàn bộ quy trình công nhận và cho thi hành. Một khi đã xác định chính xác thế nào là PQTTNN thì quy trình công nhận và cho thi hành mới diễn ra một cách đúng đắn.
Chính vì vậy, mà ngay từ những phần đầu tiên của CƯ 1958 đã khẳng định về khái niệm phán quyết trọng tài nước ngoài. Cho nên, Điều I (1) CƯ có nêu ra các yếu tố để xác nhận một phán quyết trọng tài có phải là phán quyết trọng tài nước ngoài hay không, đó là vấn đề trọng tâm. Đồng thời, Công ước còn được áp dụng cho những Phán quyết trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng khi được yêu cầu. Điều I (3) CƯ cho rằng: Thuật ngữ “các phán quyết trọng tài” bao gồm không chỉ những phán quyết được ban hành bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng vụ mà còn bao gồm những phán quyết được ban hành bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết.
Căn cứ vào Điều 1 CƯ nêu rõ: “Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những phán quyết trọng tài không được coi là phán quyết trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu. 5 Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế PQTTNN được xem là yếu tố chủ yếu vì đây là yếu tố có tính căn bản, có tính nền tảng để các quốc gia thành viên khi xây dựng những quy định pháp luật trong nước của mình phải tuyệt đối tuân thủ. Vì lẽ đó cho nên (Điều I) CƯ cũng khẳng định: Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi áp dụng Công ước theo điều X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác mà thôi.
Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý dù là quan hệ hợp đồng hay không thì cũng được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó. Như vậy, có thể thấy rằng, yếu tố chủ yếu để CƯ xem một phán quyết trọng tài nước ngoài có thể thuộc đối tượng điều chỉnh của mình hay không chính là nguyên tắc lãnh thổ. Tức là ở đây yếu tố lãnh thổ có vai trò quyết định về tính nước ngoài của một phán quyết Trọng tài. Theo đó, bất kỳ phán quyết nào được tuyên tại một quốc gia khác với quốc gia của Tòa án công nhận và cho thi hành đều có thể thuộc phạm vi của CƯ.
Có nghĩa là “Phán quyết Trọng tài nước ngoài” bất kể là nước nơi Phán quyết Trọng tài được tuyên có phải là thành viên công ước hay không. Chính vì vậy, quốc tịch, nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, hoặc trụ sở của các bên không liên quan đến việc xác định liệu một phán quyết có phải là Phán quyết trọng tài nước ngoài hay không. Một ví dụ sau đây, trọng tài VACC tuyên phán quyết tại Việt Nam nhằm giải quyết tranh chấp giữa hai doanh nghiệp của Singapore thì phán quyết này là PQTTNN. Ngoài ra, một Phán quyết được tuyên trong lãnh thổ của quốc gia nơi tiến hành việc công nhận và cho thi hành nhưng không được xem là Phán quyết Trọng tài trong nước thì cũng được xem là PQTTNN.
Tóm lại, yếu tố về mặt lãnh thổ là vấn đề quan trọng, đã được áp dụng một cách rộng rãi và chiếm đa số trên hầu hết các quốc gia thành viên của CƯ 1958. Song song đó, CƯ 1958 còn cho phép các nước thành viên vận dụng thêm, một phán quyết được tuyên ngay trên lãnh thổ của nước được yêu cầu công nhận và cho thi hành cũng có thể xem là PQTTNN nếu phán quyết này không được xem là Phán quyết trong 6 Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế nước. Nếu như với yếu tố quan trọng vốn được ưu tiên là “nguyên tắc lãnh thổ”, thì yếu tố ít quan trọng hơn lại tập trung vào tính “không phải trong nước”của một PQTTNN. Có thể hiểu rằng, khi yếu tố quan trọng được quy định một cách rõ ràng và cụ thể thì thứ yếu lại hoàn toàn được CƯ 1958 bỏ ngỏ, đây cũng là một đều kiện thuận lợi cho các nước có tham giam gia CƯ 1958.
Cho nên, việc xác định thế nào là một “Phán quyết Trọng tài” không phải trong nước sẽ được điều chỉnh do pháp luật của quốc gia nơi tiến hành công nhận và cho thi hành. Như vậy, giải pháp này nhiều chuyên gia cho rằng tính bỏ ngỏ của CƯ là vô cùng hợp lý và thuyết phục, bởi các lý do sau: (i) mỗi quốc gia có truyền thống và nhận thức pháp luật nói chung, cũng như truyền thống đối với việc công nhận và cho thi hành Phán quyết Trọng tài nước ngoài nói riêng, vốn dĩ pháp luật mỗi nước thực tế là khác nhau, nên việc đặt ra một quy trình “chuẩn” cho tất cả các quốc gia thành viên CƯ là điều không thể; (ii) xuất phát từ cách thức và hành động mà một quốc gia thành viên quan niệm về việc công nhận và cho thi hành Phán quyết Trọng tài nước ngoài tại quốc gia của mình sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến cách nhìn của Tòa án quốc gia đó về tính “không phải trong nước” của một Phán quyết Trọng tài. Ví dụ như, việc thừa nhận và cho phép thi hành tại Việt Nam PQTTNN có thể được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam và Phán quyết trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên, theo những nguyên tắc và trình tự pháp lí nhất định. Tòa án Việt Nam xem xét việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam PQTTNN trong trường hợp Phán quyết được tuyên tại nước hoặc của trọng tài của nước mà Việt Nam và nước đó đã kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế về vấn đề này.
Ngoài ra, trên cơ sở Việt Nam đã kí kết với nhiều quốc gia về các Hiệp định thương mại, thì PQTTNN cũng có thể được Tòa án Việt Nam dựa trên các yếu tố đó để xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở “có đi có lại”. 7 Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế PQTTNN được thi hành tại Việt Nam sau khi được tòa án Việt Nam có quyết định công nhận và cho thi hành. Khoản 1, Điều 425 Bộ luật TTDS năm 2015 qui định: “Tổ chức, cá nhân được thi hành, người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Phán quyết của trọng tài nước ngoài nếu tổ chức phải thi hành có trụ sở tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc nếu tài sản liên quan đến việc thi hành có tại Việt Nam…” Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức phải thi hành đóng trụ sở chính, nơi cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan. Tại Việt Nam từ khi gia nhập CƯ 1958 đến nay, trải qua nhiều văn bản pháp luật từ Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995, Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, và Luật Trọng tài thương mại 2010 đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đều sử dụng thuật ngữ “phán quyết của trọng tài nước ngoài” thay vì thuật ngữ “phán quyết trọng tài nước ngoài” là đúng hơn.
Trên thực tế diễn giải một cách dài dòng hơn là “phán quyết của trọng tài nước ngoài”. Để được hiểu nghĩa rộng theo quan niệm của pháp luật Việt Nam hiện thời thì “phán quyết của trọng tài nước ngoài” chính là phán quyết được tuyên ở trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam bởi trọng tài nước ngoài (trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài) nhằm giải quyết các tranh chấp tức là PQTTNN. Có hai vấn đề cần làm rõ từ định nghĩa này: trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và nơi tuyên phán quyết. Căn cứ Luật trọng tài thương mại 2010, được qui định tại khoản 11(Điều 3): “trọng tài nước ngoài là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam”.
Như vậy, trong qui định pháp luật hiện hành của Việt Nam, một phán quyết có phải là “phán quyết của trọng tài nước ngoài” hay không thì Điều 3 (12) Luật Trọng tài thương mại cũng khẳng 8 Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế định: “phán quyết của trọng tài nước ngoài” là phán quyết do trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn. Song song đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, với tư cách là đạo luật điều chỉnh toàn bộ quy trình công nhận và cho thi hành “Phán quyết Trọng tài nước ngoài” ở Việt Nam thì cũng dẫn chiếu ngược lại các quy định của Luật Trọng tài thương mại (Điều 424 (3) Bộ luật tố tụng dân sự 2015).