MỞ ĐẦU Thủy khí động lực học có mối liên hệ chặt chẽ giữa khoa học và yêu cầu thực tế. Ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực từ nghiên cứu về khí động lực học của máy bay, khí động lực học của ô tô, ổn định dòng chảy trong tàu thủy đến những ứng dụng rất cụ thể trong cuộc sống như: các loại máy khuấy, các kênh đào, đập nước, thuyền bè,… Từ thời xa xưa, bài toán thủy tĩnh lực đẩy của Acsimet (287-212 TCN) đã gắn liền với nhiều sự kiện nổi tiếng. Nhà danh họa nổi tiếng Leona Đơvanhxi (1452-1519) đã đưa ra khái niệm về lực cản của chất lỏng và ông rất muốn biết tại sao chim lại bay được, nhưng phải hơn 400 năm sau, Jucopxki và Kutta mới giải thích được: đó là lực nâng.Ơle (1707-1783) và Becnuli (1700-1782) đã đặt cơ sở lý thuyết cho thủy khí động lực học, nhưng người mô tả được chất lỏng thực và chất khí phải kể đến Navier (người Pháp) và Stokes (người Anh) hai ông đã tìm ra phương trình vi phân chuyển động từ năm 1821 đến năm 1845. Khi nhà bác học người Đức L.Prandtl sáng lập ra lý thuyết lớp biên năm 1904, đã góp phần giải được nhiều bài toán khí động lực học.
Ngày nay thủy khí động lực học đã phát triển rất rộng rãi và ứng dụng trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu cũng như đời sống. Với nền tảng cơ sở lý thuyết rộng rãi, thêm vào đó là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, các nhà nghiên cứu đã xây dựng và mô phỏng được rất nhiều mô hình thủy khí động lực học sát với thực tế. Hiện nay, khí động lực học ô tô là bài toán rất phổ biến, được nghiên cứu cả bằng phương pháp thực nghiệm trong ống khí động và mô phỏng mô hình tính toán. Với mục đích giảm lực cản khí động lực học, giảm độ ồn của gió, giảm thiểu tiếng ồn phát ra và giới hạn lực nâng không mong muốn ở vùng tốc độ cao.
Đối với các loại ô tô thể thao, người ta còn thiết kế những chi tiết khí động lực học để tăng lực nén của ô tô xuống đường và ổn định khả năng chuyển hướng của ô tô. Nghiên cứu khí động lực học của ô tô cũng có những đặc điểm khác với máy bay như: đặc điểm hình dạng của ô tô gồm những mặt dốc, ô tô thì chạy trên mặt đất với vận tốc thấp hơn, chuyển động của ô tô ít bậc tự do và ít bị ảnh hưởng bởi khí động lực học hơn so với máy bay. Mục tiêu đề tài Xây dựng mô hình tính toán trên máy tính để mô phỏng và đưa ra các nhận xét cơ bản về sự ảnh hưởng của các vùng khí động lực học với mẫu xe Tesla Cybertruck. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài được chọn là mẫu xe Tesla Cybertruck.
Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết. Nội dung chính là xây dựng mô hình mẫu xe Tesla Cybertruck. Sau đó đưa vào tính toán và phân tích kết quả trong phần mềm ANSYS FLUENT. Cơ sở lý thuyết của mô hình tính toán là phương trình Reynolds (RANS) với 2 phương trình bổ sung (mô hình STT k - ω) với phương pháp giải là phương pháp thể tích hữu hạn.
Cấu trúc Báo cáo tổng kết Báo cáo tổng kết gồm các nội dung như sau: • Tổng quan. • Xây dựng mô hình mô phỏng khí động lực học ô tô. • Nghiên cứu mô phỏng khí động lực học mẫu xê ô tô Tesla Cybertruck bằng phần mềm ANSYS – FLUENT. • Phân tích kết quả mô phỏng.
Khí động học ô tô Khi ô tô chuyển động trong môi trường không khí, sự tương tác của vỏ xe với môi trường sinh ra các lực và mô men có ảnh hưởng xấu tới chất lượng vận hành của ô tô. Hệ quả trực tiếp của sự tương tác trên là lực cản không khí làm gia tăng mức tiêu thụ nhiên liệu của ô tô, đặc biệt là ở vận tốc cao do lực này tỷ lệ với bình phương của vận tốc. Ngoài ra, lực nâng làm giảm khả năng bám đường, còn các mô men thì có thể gây nên hiệu ứng lật xe. Đây là những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn chuyển động.
Để giảm tối đa những ảnh hưởng xấu nêu trên, cần có những nghiên cứu sâu về khí động lực học của vỏ xe ngay trong quá trình thiết kế. Khí động lực học và các thông số đặc trưng Đối tượng nghiên cứu của khí động học là dòng chảy quanh một vật cản đang chuyển động bằng phương pháp Euler với hệ tọa độ gắn với vật. Để đơn giản hóa phương pháp mô tả, người ta coi một vật chuyển động với vận tốc V trong môi trường không khí tĩnh tương đương với vật đứng yên trong dòng khí có vận tốc V.1 mô tả một vật cản nằm trong dòng chảy không khí với vận tốc ở đầu nguồn là U∞. Dòng chảy không khí tác dụng lên vật một lực F, được phân tích thành 2 thành phần Fx (lực cản) song song với phương chuyển động của dòng khí và Fz (lực nâng) là thành phần vuông góc với phương chuyển động.
Các lực này được tính như sau: ρU2∞ Fx = C x A (1.1 Các lực tác dụng lên vật nằm trong dòng chảy Trong đó: Fx: là lực cản; Fz: là lực nâng; Cx, Cz: là các hệ số ρ: khối lượng riêng không khí U∞: vận tốc chuyển động (m/s) A: là diện tích cản chính diện (m2) 3 Công thức 1.1 cho thấy hệ số Cx không có thứ nguyên, nó không đặc trưng cho một đại lượng vật lý nào mà chỉ phụ thuộc vào hình dạng khí động học của vật. Đây là thông số đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu khí động học. Công thức trên cũng cho thấy, để giảm lực cản của không khí lên vật đang chuyển động thì chỉ có cách duy nhất hợp lý là giảm hệ số Cx. Bởi vì, nếu giảm A thì sẽ giảm thể tích sử dụng làm ô tô trở nên chật chội.
Nếu giảm U thì tốc độ chuyển động giảm làm năng suất vận chuyển giảm theo. Vì vậy, tất cả các nỗ lực trong nghiên cứu khí động học ô tô ngày nay tập trung chủ yếu vào việc cải thiện hình dáng khí động học vỏ xe nhằm giảm thiểu Cx. Trước đây, khi ô tô chuyển động với vận tốc chưa cao, các nghiên cứu khí động học chỉ quan tâm chủ yếu đến lực cản Fx do lực nâng rất nhỏ và ảnh hưởng không nhiều đến điều kiện chuyển động. Khi ô tô chuyển động với vận tốc cao hơn, chẳng hạn như ô tô thể thao và ô tô đua thì thành phần lực này đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Đối với các ô tô là đối tượng nghiên cứu của đề tài, vận tốc tối đa thường xấp xỉ 100km/h, nên ảnh hưởng của lực nâng là không đáng kể. Trong nghiên cứu khí động học, có 2 thông số quan trọng đặc trưng dòng chảy không khí là số Reynolds và số Mach. Chúng được định nghĩa như sau: ρ∞ U∞ L Số Reynolds : Re = (1.4) a∞ Trong đó: L: thông số hình học đặc trưng (m) µ: hệ số độ nhớt động lực (N.s/m2) a: vận tốc truyền âm trong không khí. Chỉ số “∞” trong các công thức trên thể hiện thông số được lấy ở vùng không khí cách xa vật chuyển động và không chịu ảnh hưởng của vật này.
Trong nghiên cứu thủy khí động lực học người ta thường dùng các thông số trên để đánh giá trạng thái dòng chảy và làm chỉ tiêu cho các phép quy đổi tương tự. Trong đó, thông số thường dùng đối với khí động học ô tô là Re vì M thường rất bé (M<1). Còn nếu M rất lớn (trường hợp các máy bay siêu âm) thì cần sử dụng thêm một chỉ tiêu tương tự khác nữa. Ngoài ra, số Reynolds thường được sử dụng để đánh giá và xác định trạng thái dòng chảy.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong các nghiên cứu khí động lực học. Trong phân loại dòng chảy khí động, khi M ≤ 0,3 dòng chảy được gọi là dòng chảy dưới âm với môi trường không chịu nén. Vì vậy, trong các tính toán khí động học ô tô, 4 để đơn giản hóa bài toán người ta thường chấp nhận giả thiết là không khí không chịu nén với sai số không đáng kể (với M ≈ 0,3, sai số khoảng 5%). Lực cản không khí Lực cản của không khí có thể phân tích thành 2 thành phần: cản do ma sát Fms và cản do chênh áp Fca, do vậy Cx cũng được chia thành hai thành phần tương ứng: 𝐶𝑥 = 𝐶𝑚𝑠 + 𝐶𝑐𝑎 (1.5) Nếu như thành phần cản do ma sát phụ thuộc chủ yếu vào độ nhám bề mặt của vỏ xe thì thành phần cản do chênh áp lại phức tạp hơn rất nhiều.
Nó phụ thuộc chủ yếu vào hình dạng khí động lực học của vật cản.2 mô tả dòng khí với vận tốc U∞ và áp suất p∞ chảy quanh một vật cản. Có thể nhận thấy rằng, ban đầu dòng chảy ôm lấy vật và được coi là bám vào nó cho tới điểm A. Tới đây, dòng chảy tách khỏi vật làm xuất hiện một vùng xoáy phía sau nó, vùng xoáy này có áp suất p2 rất thấp (thường là chân không), trong khi phía trước của vật lại chịu áp suất p1 lớn, do vậy sinh ra độ chênh áp: Δp = p1 - p2.2 Sự hình thành vùng xoáy áp thấp phía sau vật cản 𝐹𝑥 = 𝐹𝑚𝑠 + 𝐴.Δp = Fca là thành phần lực cản do chênh áp. Lực này phụ thuộc chủ yếu vào độ chênh áp và diện tích của vùng xoáy.
Phạm vi của vùng xoáy được xác định bởi điểm tách dòng (điểm A trên hình 1. Đây là điểm mà dòng chảy bắt đầu tách khỏi vật cản và là khởi đầu của vùng xoáy. Các nghiên cứu cho thấy, trong một môi trường xác định (có độ nhớt xác định) vị trí của điểm A phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố: vận tốc dòng chảy và hình dạng của vật cản. Vận tốc của dòng chảy mà càng lớn thì điểm A càng dịch về phía trước làm diện tích vùng xoáy sẽ tăng lên và ngược lại.
Nếu hình dạng của vật cản là lý tưởng về mặt khí động học thì điểm A gần như không tồn tại mà dòng chảy sẽ bao kín vật cản như thể hiện trên hình 1. Trong trường hợp này có thể coi: Fca ≈ 0, hay Fx ≈ Fms.3 Ảnh hưởng của hình dạng của vật cản tới sự hình thành vùng xoáy Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn các vật (trong đó có các vỏ xe ô tô) có hình dạng khí động không thể là lý tưởng.