Đặt vấn đề Khả năng giao tiếp, truyền đạt ý nghĩ của con người bằng hành động hay ngôn ngữ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát và hoạt động của cơ bắp trong cơ thể. Con người cần sử dụng các cơ bắp này để nói chuyện hoặc thực hiện các hành vi giao tiếp. Những người bị tổn thương chức năng vận động hay những bệnh nhân mắc chứng xơ cứng teo cơ một bên (ALS) gặp khó khăn hoặc mất khả năng vận động của các cơ, điều này khiến cho quá trình giao tiếp của họ gặp các vấn đề lớn. Bệnh nhân ALS dần dần mất khả năng kiểm soát các cơ do sự suy giảm các tế bào thần kinh vận động trung ương và ngoại vi, dẫn đến họ có thể mất khả năng nói.
Những người này cần một hệ thống bên ngoài hỗ trợ khả năng giao tiếp. Các hệ thống giao diện não - máy tính, cụ thể là các hệ thống đánh vần là một giải pháp khả thi khi sử dụng tín hiệu điện não để thực hiện các hành động thay cho chuyển động của các cơ. Các hệ thống hỗ trợ giao tiếp này cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân bị tổn thương khả năng vận động. Các hệ thống giao diện não - máy tính cho đánh vần sử dụng tín hiệu điện não thường có tốc độ nhập liệu chậm hơn so với các hệ thống đánh vần sử dụng phương pháp theo dõi ánh mắt (Eye-tracking).
Tuy nhiên, các hệ thống này phụ thuộc vào khả năng chuyển động của mắt, chúng thường kém hiệu quả khi người sử dụng suy giảm khả năng thị lực. Các hệ thống đánh vần gần đây thường kết hợp tín hiệu điện não và theo dõi ánh mắt để xây dựng một hệ thống giao diện não - máy tính lai (Hybrid BCI) để cải thiện tốc độ cũng như độ chính xác của hệ thống.1 minh họa hệ thống giao diện não - máy tính lai phục vụ mục đích nhập liệu (đánh vần). Với mong muốn cải thiện hiệu quả của hệ thống giao diện não - máy tính (BCI) cho đánh vần sử dụng theo dõi ánh mắt hiện có, luận văn nghiên cứu các phương pháp và xây dựng mô hình phân loại tín hiệu điện não dựa trên mô hình học sâu (mạng nơ-ron tích chập) để có thể kết hợp với hệ thống đánh vần bằng mắt đã có trong tương lai. Luận văn đánh giá kết quả của mô hình phân loại trên dữ liệu từ các đối tượng khỏe mạnh và 1 bệnh nhân ALS, cũng như khả năng sử dụng dữ liệu từ các phiên thu, đối tượng khác (bằng cách áp dụng các phương pháp căn chỉnh dữ liệu) để phân biệt tín hiệu điện não khi dữ liệu của mỗi đối tượng hạn chế, đặc biệt với các bệnh nhân ALS.1: Hệ thống nhập liệu sử dụng tín hiệu điện não (thực hiện / tưởng tượng ảnh vận động) và theo dõi ánh mắt [1] 2 Định nghĩa bài toán và hướng tiếp cận Phân loại tín hiệu điện não là một trong những bài toán điển hình của nghiên cứu về khoa học thần kinh.
Phân loại tín hiệu điện não cho phép tìm kiếm các đặc trưng của não bộ trong những trạng thái nhất định, cũng như xây dựng các hệ thống giao diện não - máy tính. Với các hệ thống giao diện não - máy tính, cụ thể là các hệ thống đánh vần, ba mô hình của tín hiệu điện não được sử dụng phổ biến bao gồm: kích thích tiềm năng liên quan đến sự kiện (khoảng 300ms), phản hồi tự nhiên trước các kích thích thị giác tại các tần số nhất định và tưởng tượng ảnh vận động. Các mô hình này có thể được phân biệt với nhau bởi các đặc trưng cần được trích rút và mô hình phân loại tương ứng. Luận văn tập trung vào việc phân loại tín hiệu điện não EEG trong tác vụ tưởng tượng ảnh vận động.
Các đối tượng sử dụng có thể tưởng tượng quá trình thực hiện vận động tự nguyện, chủ động, không phụ thuộc vào các kích thích từ bên ngoài như các kích thích về thị giác so với hai mô hình còn lại (não bộ phản hồi lại các kích thích này). Do đó, mô hình này có tiềm năng rất lớn trong việc xây dựng hệ thống đánh vần kết hợp với hệ thống theo dõi ánh mắt đã có từ trước. Với sự phát triển nhanh chóng của các mô hình học sâu, các nghiên cứu gần đây về khoa học thần kinh cũng tập trung áp dụng các mô hình này bên cạnh các mô hình học 2 máy truyền thống và đạt được những kết quả nhất định. Khác với các mô hình học máy truyền thống, các mô hình học sâu không bị phụ thuộc vào đặc trưng của từng loại mô hình tín hiệu điện não, tổng quát cho nhiều bài toán khác nhau.
Như vậy, luận văn giải quyết bài toán phân loại các đoạn tín hiệu điện não liên tục theo thời gian sử dụng mô hình học sâu, cụ thể là mạng nơ-ron tích chập và đánh giá kết quả trên hai bộ dữ liệu về tín hiệu điện não trong tác vụ tưởng tượng ảnh vận động với các nhãn là các chuyển động của từng bộ phận cơ thể như tay trái, tay phải, hai chân,. - Đầu vào: Các đoạn tín hiệu điện não xi ∈ RN xT , với N là số kênh, T là độ dài của tín hiệu theo thời gian. - Đầu ra: Nhãn của các đoạn tín hiệu điện não trong tác vụ tưởng tượng ảnh vận động yi ∈ {nghỉ, hai chân trái/phải, tay trái, tay phải,. 3 Đóng góp của luận văn Luận văn tập trung vào thực nghiệm các phương pháp phân loại tín hiệu điện não bằng các mô hình học sâu đã được đề xuất trước đó cho tác vụ tưởng tượng ảnh vận động.
Luận văn đánh giá phương pháp căn chỉnh dữ liệu và mô hình học sâu trên hai bộ dữ liệu về tác vụ tưởng tượng ảnh vận động: Physionet Motor Movement/Imagery [2] và HMI EEG-ET, trong đó HMI EEG-ET là bộ dữ liệu hoàn toàn mới của Phòng thí nghiệm Tương tác người - máy (HMI), Trường Đại học Công Nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Bộ dữ liệu HMI EEG-ET gồm hơn 100 đối tượng khỏe mạnh và bệnh nhân ALS (tiếp tục mở rộng), được xây dựng với mục tiêu phát triển hệ thống đánh vần kết hợp tín hiệu điện não và theo dõi ánh mắt. Luận văn đánh giá khả năng xây dựng phương pháp phân loại tín hiệu điện não sử dụng mô hình học sâu cho bệnh nhân ALS với lượng dữ liệu hạn chế của mỗi đối tượng. 4 Cấu trúc của luận văn Phần sau của luận văn được chia thành 4 chương bao gồm các nội dung sau: - Chương 2: Tín hiệu điện não.
Chương này trình bày một số lý thuyết, khái niệm cơ bản về tín hiệu điện não, tác vụ tưởng tượng ảnh vận động và các nghiên cứu liên quan đến bài toán phân loại. - Chương 3: Phân loại tín hiệu điện não trong tác vụ tưởng tượng ảnh vận động sử dụng mô hình học sâu. Chương này trình bày phương pháp phân loại tín hiệu điện não được sử dụng trong luận văn, bao gồm: căn chỉnh tín hiệu điện não và mô hình học sâu - mạng nơ-ron tích chập được sử dụng để phân loại tín hiệu. 3 - Chương 4: Thực nghiệm.
Chương này trình bày các thông số đánh giá mô hình phân loại, thực nghiệm và kết quả thu được của luận văn khi thực nghiệm trên hai bộ dữ liệu tín hiệu điện não về tác vụ tưởng tượng ảnh vận động bao gồm: Physionet Motor Movement/Imagery và HMI EEG-ET. - Chương 5: Kết luận. Chương này trình bày các kết luận của luận văn sau khi thực hiện các thực nghiệm, các hạn chế và các hướng phát triển tiếp theo của luận văn trong tương lai. 4 CHƯƠNG 2 Tín hiệu điện não Chương này trình bày một số lý thuyết, khái niệm cơ bản về tín hiệu điện não, tác vụ tưởng tượng ảnh vận động và các nghiên cứu liên quan đến bài toán phân loại tín hiệu điện não.
1 Giao diện não - máy tính Giao diện não - máy tính hay Brain-Computer Interface (BCI) là hệ thống hoạt động giữa não và máy tính, cho phép con người giao tiếp hoặc điều khiển qua máy tính, các thiết bị điện tử trực tiếp bằng tín hiệu điện não mà không cần thực hiện chuyển động. Các hệ thống BCI được ứng dụng trong lĩnh vực y tế khi hỗ trợ giao tiếp, điều khiển các thiết bị điện tử, hoặc xe lăn, chi giả,. cho những người bị tổn thương chức năng vận động hoặc những bệnh nhân cần phục hồi chức năng sau các tổn thương về não. Ngoài ra, hệ thống BCI còn được áp dụng trong các lĩnh vực khác như trò chơi điện tử, thực tế ảo, .1: Tổng quan hệ thống BCI [Nguồn: how2electronics] Các hệ thống BCI có thể được phân biệt dựa trên nhiều khía cạnh: cách thu, tiền xử lý dữ liệu, trích chọn đặc trưng hay các bộ phân lớp được sử dụng.
Nhìn chung, các hệ thống BCI được chia làm hai loại chính là xâm lấn và không xâm lấn: - Các hệ thống BCI xâm lấn là các hệ thống mà thiết bị được đặt trực tiếp trong/trên bề mặt của não bộ. Các hệ thống này có thể thu thập và xử lý các tín hiệu chi tiết và có độ chính xác cao. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra các rủi ro về sức khỏe khi cần thực hiện phẫu thuật và chi phí lớn, nên chúng thường không phổ biến. Hệ thống BCI xâm lấn phổ biến có thể kể đến điện não đồ xâm lấn (Electrocorticography - ECoG).
- Các hệ thống BCI không xâm lấn là các hệ thống mà thiết bị không cần đặt trực tiếp trên bề mặt của não bộ, được cài đặt nhanh chóng, đơn giản hơn. Các hệ thống này được sử dụng phổ biến cả bên trong và ngoài y tế. Tuy nhiên, các hệ thống không xâm lấn này có độ chính xác kém hơn và không thể thu thập tín hiệu từ các vùng nằm sâu phía trong não. Một số hệ thống BCI không xâm lấn phổ biến như chụp cộng hưởng từ (Functional magnetic resonance imaging - fMRI) hay điện não đồ không xâm lấn (Electroencephalography - EEG).
2 Điện não đồ không xâm lấn Electroencephalography (EEG) là phương pháp không xâm lấn, được dùng để đo đạc hoạt động của các nhóm tế bào thần kinh cùng hoạt động trong não bộ bằng cách 6 ghi lại điện thế tại các điện cực được đặt trên da đầu. Các giá trị điện thế thu được tạo thành một tín hiệu liên tục theo thời gian gọi là sóng não hay tín hiệu điện não. Các giá trị điện thế thường nằm trong khoảng từ −100µV đến +100µV .