CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Định nghĩa về gian lận trong báo cáo tài chính 1. Khái niệm về báo cáo tài chính a. Định nghĩa về báo cáo tài chính Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán là sự trình bày một cách hệ thống các thông tin tài chính trong quá khứ của một ngân hàng bao gồm 4 bảng chính gồm: Bảng cân đối kế toán (i), bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (ii), bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ (iii), thuyết minh báo cáo tài chính (iv) và những báo cáo khác theo quy định của pháp luật (Điều 29, Luật Kế toán số: 88/2015/QH13).
Báo cáo tài chính là phương diện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm: chủ doanh nghiệp nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan thuế, các cơ quan chức năng,. Theo chế độ quy định, tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày báo cáo tài chính năm. Đối với các công ty, tổng công ty có các đơn vị trực thuộc, ngoài BCTC thường niên còn phải lập các BCTC tổng hợp hoặc BCTC hợp nhất vào cuối mỗi kỳ kế toán năm. Đối với các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK, ngoài BCTC năm còn phải lập BCTC tổng hợp.
Bắt đầu từ năm 2008, các công ty mẹ và tập đoàn phải lập BCTC hợp nhất giữa niên độ và báo cáo hợp nhất cuối niên độ kế toán và BCTC hợp nhất sau khi hợp nhất kinh doanh. Ý nghĩa của báo cáo tài chính Thứ nhất BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý DN cũng như đối với các cơ quan chủ quản và các đối tượng quan tâm. Ngoài ra, BCTC cũng là căn cứ quan trọng dùng để phân tích, nghiên cứu, khai thác được những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp; giúp những nhà quản lý đưa ra những quyết định về vận hành doanh 9 nghiệp hay cũng giúp những nhà đầu tư và chủ nợ hiện tại của doanh nghiệp nắm được tình hình hoạt động kinh doanh của chủ thể. Thứ hai, BCTC là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của DN.
Chính vì vậy, BCTC còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế – kỹ thuật, tài chính của DN là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị DN không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận cho DN. Thứ ba, BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của DN trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chính vì vậy, BCTC là đối tượng quan tâm của các nhà đầu tư, Hội đồng quản trị doanh nghiệp người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và toàn bộ cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp. Khái quát chung về gian lận báo cáo tài chính của các NHTM a.
Khái quát chung về NHTM Việt Nam Ngân hàng vẫn được xem như là ngành đầu tàu của nền kinh tế. Nghiên cứu về ngân hàng và các hoạt động liên quan đến các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng là điều cần thiết để vận hành và quản lý hệ thống này có hiệu quả trong tiến trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Mặc dù không tạo ra tài sản hữu hình trong nền kinh tế, nhưng NHTM là tổ chức trung gian tài chính, là doanh nghiệp kinh doanh quyền sở hữu và sử dụng tiền, có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng đến nhiều thành phần kinh tế khác. Thông qua các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, ngân hàng thể hiện vai trò của mình trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, đóng góp vai trò quan trọng trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô của một đất nước.
Nhiều nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng và 10 to lớn của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên vai trò tích cực đến đâu còn phụ thuộc nhiều vào cách thức quản lý hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia. Chung quy lại, có thể nói ngân hàng chính là người thủ quỹ cho toàn xã hội. Đảm bảo an toàn các quỹ tiền tệ, thanh toán thông suốt, góp phần tiết kiệm chi phí của toàn xã hội.
So với thời điểm tại năm 1990, tại Việt Nam, chỉ có 4 Ngân hàng thương mại nhà nước chiếm lĩnh toàn bộ thị trường tiền gửi và cho vay ở Việt Nam, thì cho đến nay, đã có hơn 100 ngân hàng đang hoạt động và cụ thể là có 25 ngân hàng đang hoạt động được niêm yết trên 3 sàn HOSE, HNX và UPCOM. Mô hình hệ thống hoạt động của ngân hàng cũng đã thay đổi, khéo theo đó là nhiều sự thay đổi về chất lượng đến những dịch vụ mới của ngân hàng được mở ra, nhưng nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng từ xưa đến nay vẫn là cho vay. Các đối tượng đi vay của ngân hàng chủ yếu là đến từ các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình, do đó việc sản xuất và tiêu dùng của xã hội cũng được kích thích phát triển. Chính vì vậy, các thông tin mà ngân hàng cung cấp, đặc biệt là các số liệu trên BCTC sẽ được các đối tượng liên quan trong thị trường quan tâm và nghiên cứu để phục vụ cho lợi ích cho chính mình.
Khái niệm gian lận Khái niệm về gian lận Gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt người khác. Hay hiểu theo nghĩa rộng hơn, gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Ba biểu hiện thường thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp. Các sai sót trong BCTC có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn.
Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý. Khóa luận chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các sai sót cố ý trong báo cáo tài chính hay nói cách khác là nghiên cứu các gian lận trong báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại. 11 Theo Lý thuyết Kiểm toán [19], sai phạm là yếu tố mấu chốt trong việc xác minh tính trung thực của thông tin kế toán và hoạt động tài chính. Sai phạm bao gồm gian lận và sai sót.
Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi. Sai sót là lỗi không cố ý, thường được hiểu là sự nhầm lẫn bỏ sót hoặc yếu kém về năng lực gây ra sai phạm. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 [12], Sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Để phân biệt giữa gian lận và sai sót, cần xem xét hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý.
Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 cũng định nghĩa: “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp” Gian lận có thể biểu hiện dưới các dạng tổng quát sau: - Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính. - Sửa đổi tài liệu, chứng từ kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính. - Biển thủ tài sản. - Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làm sai lệch báo cáo tài chính.
- Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật. - Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính. - Cố ý tính toán sai về số học. Phân loại gian lận Có ba loại gian lận như sau: - Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ tài sản của tổ chức (ví dụ điển hình là biển thủ tiền, gian lận về tiền lương,…).
12 - Tham ô: Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ tham ô tài sản của công ty hay hành động trái ngược với các nghĩa vụ họ đã cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay một bên thứ ba. - Gian lận trên báo cáo tài chính: Là trường hợp các thông tin trên báo cáo tài chính bị bóp méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lường gạt người sử dụng thông tin. Như vậy, gian lận và sai sót đều là hành vi sai phạm; trong lĩnh vực tài chính kế toán các hành vi này gây lệch lạc thông tin, phản ánh sai thực tế. Tuy nhiên, hai hành vi này khác nhau về khía cạnh ý thức và mức độ “trọng yếu” của sai phạm.
Về mặt ý thức, sai sót là hành vi không có chủ ý, nguyên nhân của sai sót có thể là do năng lực hạn chế hoặc do sao nhãng, thiếu thận trọng trong công việc; trong khi đó gian lận là hành vi có chủ ý cố ý gây ra sự sai khác để trục lợi. Từ sự khác nhau về ý thức nên gian lận được che giấu rất tinh vi và khó phát hiện, còn sai sót dễ phát hiện hơn. Một sự khác nhau nữa của gian lận và sai sót là mức độ trọng yếu. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 320 (BTC, 2012, mục I: Quy định chung), thông tin được coi là trọng yếu nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính.
Nếu hành vi gian lận thì luôn được xem là nghiêm trọng, còn hành vi sai sót mức độ trọng yếu được xem xét trên quy mô và tính chất của sai phạm 1. Nguyên nhân và động cơ dẫn đến việc gian lận báo cáo tài chính a. Nguyên nhân dẫn đến gian lận BCTC Tam giác gian lận là công trình nghiên cứu của Donald R.