Chương 1, dấu vết vị trí của quá trình di chuyển thông thường có dạng một chuỗi tuân tự các vị trí theo thời gian. Những phương pháp mô hình hóa thường được sử dụng đối với dữ liệu dạng này gồm: mô hình Random Walk, mô hình Random Waypoint, mô hình Markov, v. Mô hình Random Walk. Mô hình Random Walk được giới thiệu để mô phỏng một quá trình mà sự chuyền động của nó mang tính ngẫu nhiên, gần như không thé đoán trước.
Trong mô hình Random Walk, một quá trình ngẫu nhiên sẽ tiến triển với các tham sô là phương hướng ngâu nhiên và vận toc ngau nhiên. Có thé hình dung một mô hình Random Walk như một đồ thị vô hướng trong hệ trục tọa độ vuông góc Oxy như sau: cho một điểm bắt kì trên hệ trục là đỉnh khởi đầu của một đồ thị. Sau đó, chọn một đỉnh mới trên hệ trục tọa độ sao cho khoảng cách giữa đỉnh mới và đỉnh ban đầu năm trong khoảng [đ„„, dnax| nào đó, rồi nối đỉnh ban đầu với đỉnh mới. Tiếp tục nối đỉnh mới này với một đỉnh mới theo cách tương tự.
Như vậy ta đã biểu diễn được hình ảnh hai chiều của một mô hình Random Walk với vận tốc ngẫu nhiên ở mỗi bước tiến triển là chiều dài của một cạnh trong đồ thị, hướng ngẫu nhiên là góc tạo bởi các cạnh trong đồ thị với hệ trục tọa độ, như minh họa trong hình 2. Biéu diễn mô hình Random Walk trên hệ trục toa độ hai chiêu Mô hình Random Walk với các thông số phù hợp về sự ngẫu nhiên của phương hướng và vận tốc sẽ giúp biểu diễn được các quá trình quan sát được trong tự nhiên như: sự di chuyển của chất lỏng, sự bay hơi của chất khí, sự dịch chuyển của các phân tử, v. Tuy nhiên, hau hết các quá trình chuyển động quan sát được hàng ngày xung quanh ta đều không phải là hoàn toàn ngẫu nhiên, ví dụ như sự thay đổi thời tiết, sự di chuyển của phương tiện giao thông trong thành phó, tỉ giá chứng khoán, v. Tất cả những quá trình này đều phan nào có thé du đoán được.
Sự tiến triển của các quá trình này phụ thuộc các ràng buộc và điều kiện bên ngoài cũng như dựa trên lịch sử tiến triển của chính nó. Sự tiến triển của mô hình Randon Walk là hoàn toàn ngẫu nhiên, không phụ thuộc vào một tri thức đã biết nào. Do đó mô hình Random Walk không đủ phù hợp dé có thé mô phỏng được các quá trình mà sự tiến triển của nó bi chi phôi bởi những điêu kiện phức tạp, ví dụ như sự di chuyền của con người. Mô hình Markov.
Là một mô hình cải tiến giúp loại bỏ phần nào yếu tố ngẫu nhiên của mô hình Random Walk [2]. Trong mô hình Markov, sự tiến triển của quá trình ngẫu nhiên được chi phối bởi trạng thái hiện tại của quá trình, hay thậm chí bị chi phối bởi N trạng thái trước đó của quá trình. Do đó, một quá trình Markov sẽ tránh được những sự thay đổi đột ngột về phương hướng và vận tốc, giúp mô hình trở nên phù hợp hơn cho những quá trình quan sát được trong thực tế. Ví dụ: trong thị trường chứng khoán giá cô phiêu của ngày hôm sau sẽ phụ thuộc vào giá và xu hướng mua bán của ngày hôm trước; hay vi trí của một người trong tương lai sẽ phụ thuộc vào vi tri hiện tại của họ.
Quá trình chuyển trạng thái trong mô hình Markov. Ở mỗi trạng thái, mô hình sẽ có một phân bố xác suất chuyển đến những trạng thái tiếp theo. Mô hình Markov được sử dụng trong [5] để biểu diễn quá trình di chuyển của người dùng điện thoại trong mạng GSM. Dữ liệu thu được từ quá trình di chuyển của người dùng thiết bị di động trong mang GSM có dạng chuỗi tuần tự theo thời gian vị trí của các trạm thu/phát sóng.
Chuỗi vị trí của các trạm thu/phát sóng này được xem như một chuỗi trạng thái của một quá trình Markov, mỗi trạng thái của quá trình này ứng với một vị trí; vi trí của một người ở một thời điểm nhất định được xem như trạng thái hiện tại của quá trình, và sự di chuyển của người dùng từ một vi tri sang vi trí ké tiép liền kể nó được xem như một sự chuyển trạng thái trong chuối Makov. Bang cách mô hình hóa quá trình di chuyển như một quá trình Markov như trên, ta có thé khai thác được những yếu tố đặc trưng của quá trình Markov này, và cũng là đặc trưng di chuyển của đối tượng tương ứng. Cụ thể, ta có thể tính toán được phân bố xác suất mà hệ chuyền từ trạng thái này sang một trạng thái khác — ung với xác suất mà đối tượng sẽ di chuyển từ vị trí hiện tại đến một vị trí kế cận nào đó. Các phân bố xác suất này được biểu diễn băng một ma trận chuyển đối (transition probability matrix).
Ngoài ra, ta còn tính được phân bố xác suất của chuỗi Markov trên từng trạng thái. Phân bố xác suất này được biểu diễn băng một vector phân bồ (stationary distribution vector). Moi đôi tượng sẽ có quá trình di chuyên khác nhau. Do đó, mô hình hóa qua trình di chuyên của các đôi tượng này sẽ giúp sinh ra các ma trận chuyên đôi và vector phân bố khác nhau đặc trưng cho mỗi đối tượng.
Phương pháp khai phá luật kết hợp của các vị trí Một phương pháp mô phỏng đặc trưng của một quá trình di chuyên là khai thác mối quan hệ giữa các địa điểm trên quãng đường mà một đối tượng đi qua [1]. Ví dụ về mối quan hệ này là: một đối tượng U; thường đi qua vị trí L; trước khi đến vị trí L, và L3, trong khi đó một đối tượng U> thường di qua vi trí L¿ rồi mới đến vị trí Lạ, v. Những mối quan hệ này được xem xét trong từng khoảng thời gian nhất định, ví dụ như budi trong ngày hay ngày trong tuần. Việc khai thác các đặc trưng này gồm hai bước chính: e Xây dựng đường di (path construction).
e Khai phá luật kết hợp trên đường đi nay (pattern discovery). Trong bước xây dựng đường di, độ quan trọng của một vi tri đối với một đối tượng được xem như tỉ lệ thuận với khoảng thời gian đối tượng này ở tại ví trí đó. Các vị trí trên chuỗi vị trí ban đầu được xem xét hay loại bỏ (để tránh nhiễu) dựa trên mức độ quan trọng này. Sau đó, giải thuật k-mean được áp dụng để gom nhóm các vị trí có liên quan với nhau thành một vị trí duy nhất.
Kết quả cuối cùng của giai đoạn này là chuỗi đường đi gồm những vị trí đặc trưng và quan trọng đối với một đối tượng di chuyền. Sau đó, giải thuật Apriori tuần tự được sử dụng để khai phá luật kết hợp giữa các vị trí trên đường đi này. Qua đó, các đặc trưng di chuyển của một người có thé được biéu diễn dang tập những mối kết hợp (hay còn gọi là kiểu mẫu — pattern) này. Ví dụ trình bày trong bảng sau là 5 kiểu mẫu di chuyển pho biến nhất của một người trong trong khoảng thời gian là các ngày làm việc trong tuân.
Người này có tần suất di chuyển từ địa điểm Home đến Media Lab (chuỗi <Home, Media Lab>) cao nhất, xác suất xuất hiện của chuỗi này trên đường đi là 0. Chuỗi pho biến thứ hai là <Media Lab, Home> va kế đến là chuỗi <Commonweath, Media Lab>, V. Các kiêu mau đặc trưng nhát cua một quá trình di chuyên. Những kiêu mâu này có thê được xem là đặc trưng của một người do môi người sẽ có các kiêu mâu và tân suát khác nhau # Mau Tan suat 1 <Home, Media Lab> 0.279 2 <Media Lab, Home> 0.265 3 <Commonweath, Media Lab> 0.133 4 <Home, Charles Hotel, Media Lab> 0.060 5 <Media Lab, Charles Hotel, Home> 0.053 Khai thác luật kết hợp trong những khoảng thời gian khác nhau sẽ cho kết quả là các kiểu mẫu khác nhau thé hiện đặc thù di chuyển của một người trong những khoảng thời gian này.
Ví dụ, cùng một đối tượng trên nếu xét trong khoảng thời gian ngày nghỉ (thứ bảy và chủ nhật) ta sẽ tìm được tập các mẫu đặc trưng khác trong đó không chứa các vi trí Media Lab và Commonwealth. Kết luận: nghiên cứu [1] không nhằm mục tiêu nhận diện hay so sánh các mô hình di chuyển với nhau mà chỉ đưa ra phương pháp khai thác những yếu tố đặc trưng trong một quá trình di chuyển. Tuy nhiên, có thé thay được rang: dữ liệu về chuỗi vị trí của một người có thé được mô hình hóa ở một mức độ đặc thù dé giúp phân biệt được người đó với những người khác. Ta cũng thấy được răng các đặc trưng này phụ thuộc đáng kế vào khoảng thời gian mà quá trình di chuyển được xem xét.
Cac phương pháp nhận diện 2. Phương pháp nhận diện bằng mô hình Markov Trong bài toán nhận diện, việc mô hình hóa quá trình di chuyển của một người là bước quan trọng vì dé có thé phân biệt được các quá trình di chuyên khác nhau thì cần phải mô phỏng được đây đủ và bảo toàn được tính đặc trưng của mỗi quá trình di chuyển này. Sau khi đã mô phỏng được quá trình di chuyển, van dé tiếp theo của bài toán nhận diện là: tính toán mức độ tương đồng giữa hai mô hình di chuyên dé xác định xem chúng có thuộc về cùng một đối tượng hay không. Hay nói cách khác, từ một mô hình di chuyển của một đối tượng chưa biết, so sánh với mô hình của những đối tượng đã biết để tìm ra mô hình tương đồng nhất từ đó suy ra đối tượng cần tìm.
Phương pháp nay can dựa trên những điều kiện sau: 1) Qua trình di chuyén cua mot người có tính đặc trưng cao. 2) Những đặc trưng này thay đối không đáng ké theo thời gian. Quá trình di chuyển của mỗi con người về cơ bản là duy nhất. Tuy nhiên, tính duy nhất này có thể không được bảo đảm trong một số trường hợp mà dữ liệu thu được không đủ độ mịn và chính xác.
Tuy nhiên, trong thực tế, cả hai điều kiện trên đều có xác suất đúng cao. Điều này đã được chứng minh trong [5] khi có tới hơn 80% người dùng điện thoại di động có thé được nhận diện dựa trên mô hình di chuyển của họ. Nghiên cứu [5] đã đưa hai ra phương pháp nhận diện dựa trên việc tính toán sự tương đồng giữa các mô hình di chuyển Markov. Phương pháp 1 — Residence Matching Xét hai đối tượng U, và , cùng di chuyển trong phạm vi m địa điểm.