MỞ ĐẦU Phát hiện hành vi bất thƣờng có nhiều ứng dụng trong thực tiễn, là cơ sở để tiến hành các hành động, phản ứng kịp thời với các biến cố không mong đợi. Các lĩnh vực áp dụng phổ biến phát hiện hành vi bất thƣờng bao gồm nhƣng không giới hạn các lĩnh vực an ninh, y tế, điều hành sản xuất… Trong các hành vi bất thƣờng, té ngã là một trong những hành vi bất thƣờng ẩn chứa nhiều rủi ro, nguy hiểm đối với chủ thể. Ngƣời lớn tuổi thƣờng xuyên phải ở một mình hoặc thiếu sự trợ giúp của ngƣời thân nên việc khắc phục khi xảy ra sự cố té ngã rất khó khăn. Tự động phát hiện hành vi bất thƣờng (té ngã) đƣợc xem là nền tảng quan trọng để xây dựng nên các ứng dụng thực tế trong chăm sóc sức khỏe, trợ giúp, cảnh báo ngƣời có bệnh liên quan đến vận động và thần kinh; cũng nhƣ các trợ giúp kịp thời đối với ngƣời cao tuổi.
Có nhiều cách tiếp cận để phát hiện sự cố té ngã ở ngƣời lớn tuổi dựa trên thiết bị đeo, môi trƣờng và thị giác. Nhiều nghiên cứu đã phát triển các hệ thống phát hiện hành vi bất thƣờng trong hỗ trợ, chăm sóc ngƣời cao tuổi, bệnh nhân Parkinson, bệnh tim mạch, huyết áp… Trong luận văn này, chúng tôi đề xuất một cách tiếp cận phát hiện sự cố té ngã ở ngƣời lớn tuổi dựa trên hình ảnh từ camera. Luận văn này đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1 – Tổng quan; Chƣơng 2 –Đề xuất ứng dụng độ đo entropy để tách đặc trƣng ngã trên camera theo dõi; Chƣơng 3 – Đề xuất áp dụng SVM cho bài toán phân lớp các vector đặc trƣng ngã. Tổng quan về bài toán phát hiện té ngã Té ngã là một trong những rủi ro rất dễ xảy ra đối với ngƣời cao tuổi.
Té ngã có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng nếu không đƣợc xử lý kịp thời. Khi chúng ta già đi, cơ thể của chúng ta trải qua nhiều thay đổi về thể chất và trở nên mỏng manh hơn dễ bị ngã. Ví dụ, thời gian phản ứng của chúng ta chậm hơn, có liên quan đến nguy cơ ngã nhiều hơn. Tầm nhìn của chúng ta kém hơn, khiến chúng ta khó phát hiện chƣớng ngại vật hơn.
Thuốc cũng có thể ảnh hƣởng đến chúng ta bằng cách làm cho chúng ta buồn ngủ hoặc chóng mặt, từ đó ảnh hƣởng đến sự cân bằng của chúng ta. Tổ chức Y tế Thế giới [1] báo cáo rằng 30% ngƣời cao tuổi trải qua ít nhất một lần ngã mỗi năm và tần suất ngã tăng theo cấp số nhân khi tuổi càng cao. Trong khi đó, tình trạng thiếu hụt nhân lực chăm sóc đang trở thành một vấn đề ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Do đó, ngành y tế đang quan tâm đến việc có một hệ thống có thể hỗ trợ phát hiện ngƣời cao tuổi trong trƣờng hợp bị ngã.
Noury [2] đã đƣa ra định nghĩa về sự té ngã. Nó bao gồm bốn giai đoạn:trƣớc khi ngã, nguy kịch, sau ngã và phục hồi (Hình 1.1 mô tả độ cao của nạn nhân trong các pha của té ngã theo thời gian. Trong pha trƣớc té ngã, nạn nhân thƣờng đang thực hiện các hành vi bình thƣờng trong cuộc sống hằng ngày. Trong pha nguy kịch, có sự di chuyển đột ngột của nạn nhân về mặt đất dẫn đến độ cao của nạn nhân so với mặt đất giảm nhanh.
Trong pha sau té ngã, nạn nhân thƣờng nằm bất động trên mặt đất trong một khoảng thời gian không quá dài nên độ cao của nạn nhân so với mặt đất đƣợc duy trì. Cuối cùng, trong pha phục hồi, nạn nhân tự đứng dậy hoặc đứng dậy với sự giúp đỡ của ngƣời khác nên độ cao của nạn nhân so với mặt đất đƣợc tăng dần đến khi đạt độ cao bình thƣờng của nạn nhân.1 Các pha của té ngã Có nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện trong mảng phát triển các hệ thống phát hiện té ngã. Các hệ thống này có thể đƣợc chia thành 03 nhóm chính: nhóm dựa trên thiết bị đeo, nhóm dựa trên môi trƣờng, nhóm dựa trên thị giác máy tính [3]. Trong đó, cách tiếp cận dựa trên thị giác máy tính là một trong những hƣớng tiếp cận mới với khả năng áp dụng rộng rãi, dễ dàng.
Wu và các cộng sự thu thập dữ liệu gia tốc bằng cách sử dụng gia tốc kế ba trục đƣợc đeo vào ngƣời. Dữ liệu này sau đó đƣợc phân tích và so sánh với các giá trị ngƣỡng. Vallejo và Leauhatong đề xuất cung cấp dữ liệu gia tốc vào mạng nhiều tầng truyền thẳng thay vì sử dụng các giá trị ngƣỡng. OjeTola và các cộng sự đã mở rộng việc sử dụng các thiết bị dựa trên gia tốc kế bằng cách đƣa vào con quay hồi chuyển ba trục.
Hệ thống đã sử dụng cây quyết định để phát hiện. Tabar và các cộng sự đã phát triển một hệ thống nhà thông minh trong đó ngƣời dùng đƣợc trang bị một thẻ có thể giao tiếp không dây với các nút mạng. Thẻ cũng cung cấp một kênh liên lạc bằng giọng nói đến trung tâm chỉ huy trong trƣờng hợp bị rơi. Hệ thống cũng có thể ƣớc tính vị trí của một ngƣời, đƣợc sử dụng để phát hiện không hoạt động.
Cuối cùng, hình ảnh từ camera đã đƣợc sử dụng để xác nhận trực quan dự đoán của các cảm biến. Xiaodan và các cộng sự đã đề xuất một hệ thống sử dụng tín hiệu âm thanh từ microphone. Các đoạn âm thanh sau đó đƣợc phân loại bằng cách sử dụng máy máy vector hỗ trợ (Support Vector Machine - SVM). Trong nghiên cứu của Zigel và các 3 cộng sự, dữ liệu âm thanh và dao động đƣợc sử dụng làm đầu vào cho một thuật toán nhận dạng mẫu để phân biệt giữa ngã và các sự kiện khác.
Toreyin và các cộng sự hợp nhất cảm biến âm thanh, rung động và hồng ngoại thụ động. Các tính năng của Wavelet đƣợc sử dụng để trích xuất các đặc trƣng ngã từ đầu ra cảm biến thô và sau đó đƣợc phân tích để phát hiện sự cố rơi. Các tính năng này sau đó đƣợc sử dụng đồng thời để huấn luyện mô hình Markov ẩn nhằm phân biệt các hoạt động thƣờng xuyên và không thƣờng xuyên của một ngƣời cao tuổi. Ji Tao và các cộng sự sử dụng tỷ lệ co của chiều rộng và chiều cao để phát hiện một sự cố té ngã.
Miaou và các cộng sự cải thiện điều này bằng cách sử dụng bộ chuẩn tỷ lệ chiều cao và chiều rộng của các đối tƣợng, và do đó có thể có một hệ thống đáng tin cậy hơn. Mirmahboub và các cộng sự trích xuất hình bóng của một ngƣời bằng cách sử dụng phép trừ nền và trích xuất một số đặc điểm từ vùng hình bóng. Sau đó, SVM đã đƣợc áp dụng để phân loại các đặc điểm liên quan đến hình bóng này. Zerrouki và Houacine cũng sử dụng và SVM để phân loại tƣ thế của một bóng, nhƣng sau đó cũng sử dụng những dự đoán này làm đầu vào cho mô hình Markov ẩn để phân loại chuỗi video.
Cách tiếp cận sử dụng cách tiếp cận cảm biến đeo trên ngƣời cho phép phát hiện hành vi bất thƣờng ở ngƣời đeo mọi lúc, mọi nơi trong khi giảm thiểu tính xâm phạm riêng tƣ nhƣng có thể có khó khăn trong việc phát hiện các vận động không có tính lặp lại hoặc đòi hỏi nhận dạng ngữ cảnh để nâng cao độ chính xác phát hiện. Cách tiếp cận sử dụng thị giác máy tính thƣờng giới hạn ngƣời dùng trong một khu vực không gian nhất định tuy nhiên lại phù hợp trong ngữ cảnh sử dụng camera phổ biến hiện nay và chi phí cũng tiết kiệm hơn rất nhiều. Entropy và bài toán đo độ bất định 1.1 Khái niệm entropy Entropy lần đầu tiên xuất hiện trong nhiệt động lực học vào những năm 1850 với công thức của Rudolf Clausius về Định luật thứ hai về nhiệt động lực học, nhƣ một phép đo chất lƣợng của nhiệt năng trong mối quan hệ với nhiệt độ và một đặc 4 điểm của tính không thuận nghịch. Kể từ đó, công thức nhiệt động lực học đã đƣợc chứng minh là tƣơng đƣơng với công thức thống kê phân tử của entropy của Ludwig Boltzmann và Josiah Gibbs.
Vào những năm 1940, Claude Shannon đã đƣa ra một phép đo thống kê về nội dung thông tin, do sự tƣơng đồng rõ ràng của nó với các công thức Boltzmann và Gibbs, nên nó cũng đƣợc đặt tên là entropy. Nguyên tắc của entropy cực đại, công thức đầu tiên đƣợc xây dựng bởi E. Jaynes, phát biểu rằng, thƣớc đo thống kê này, khi đƣợc tối đa hóa tùy thuộc vào bất kỳ ràng buộc nào đã biết, sẽ dẫn đến phân phối có khả năng xảy ra nhất [4, 5]. Công thức thống kê này, khi áp dụng ở cấp độ vi mô, tƣơng đƣơng với công thức Boltzmann và Gibbs.
Tuy nhiên, nó có thể đƣợc áp dụng một cách tổng quát hơn, đặc biệt là trong những trƣờng hợp chi tiết không rõ hoặc không đƣợc xác định rõ ràng, chẳng hạn nhƣ trong các hệ thống đô thị hoặc thành phố. Việc định lƣợng nội dung thông tin là tƣơng đối và theo ngữ cảnh cụ thể, tùy thuộc vào lƣợng thông tin mà ngƣời quan sát sở hữu. Trong công trình của mình vào năm 1948, Shannon [6] đề xuất độ đo nội dung thông tin dựa trên việc truyền tải thông điệp từ ngƣời này sang ngƣời khác với tên gọi là entropy. Xét thông điệp đƣợc hình thành nhƣ một chuỗi các biến ngẫu nhiên, có thể có một số trạng thái , với xác suất xuất hiện cho trƣớc bởi.
Nếu không quan sát, ngƣời nhận không có thông tin và nhận thấy độ không chắc chắn là tối đa. Thông tin đƣợc cung cấp bởi việc quan sát trạng thái là thƣớc đo mức độ không chắc chắn của thông tin. Xác suất của càng thấp, thì thông tin thu đƣợc qua việc quan sát càng nhiều. Ví dụ: nếu X là tổng của hai lần tung xúc xắc không chệch, quan sát thấy xác suất thấp X = 2 (2 xúc xắc có giá trị 1), trong khi X = 7 mơ hồ hơn về thông tin giá trị của xúc tuy nhiên xác suất xuất hiện X = 7 là cao hơn.
Từ đó, X = 2 cung cấp nhiều thông tin hơn về các giá trị xúc xắc riêng lẻ so với quan sát xác suất cao X = 7. Shannon phát biểu công thức độ đo cho nội dung thông tin nhƣ công thức (1). ∑ (1) trong đó là hằng số dƣơng là xác suất của dự kiện và tổng là trên tất cả các quan sát có thể có và cơ số của logarit chuyển tiếp các đơn vị thông tin.