Chương 1 Công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế còn bổ sung thêm một chức năng nữa của bao thanh toán là tài trợ cho người bán, bao gồm việc cho vay lẫn việc ứng tiền thanh toán trước. - Đối với một số tổ chức cung cấp dịch vụ bao thanh toán khác thì nghiệp vụ này được định nghĩa là việc mua lại các khoản phải thu hay việc cung cấp tài trợ tài chính ngắn hạn thông qua việc trả các khoản phải thu ngay lập tức bằng tiền mặt để cải thiện dòng ngân lưu của khách hàng (client) đồng thời nhận lấy rủi ro tín dụng (rủi ro khi người mua không thanh toán, người mua không nhận hàng…). Các dịch vụ đi kèm gồm có quản lý nợ, quản lý sổ cái bán hàng, xếp hạng hạn mức tín dụng và thu hộ. - Theo Quy chế hoạt động bao thanh toán ban hành theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của Ngân hàng nhà nước: Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng.
Trong một nghiệp vụ bao thanh toán thông thường sẽ có sự xuất hiện của ít nhất ba bên: tổ chức bao thanh toán (factor), khách hàng của tổ chức bao thanh toán (client hay seller) và con nợ của tổ chức bao thanh toán (debtor hay buyer). • Người mua nợ hay đơn vị bao thanh toán (factor): là ngân hàng, công ty tài chính chuyên thực hiện việc mua bán nợ và các dịch vụ khác liên quan đến mua bán nợ. Trong nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế sẽ có hai đơn vị bao ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân Trang 10 thanh toán, một đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà nhập khẩu. • Người bán nợ hay nhà xuất khẩu (client, seller, exporter): các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán.
• Người mắc nợ hay nhà nhập khẩu (debtor, buyer, importer): hay còn gọi là người phải trả tiền, đó chính là người mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung ứng. Mặc dù có nhiều diễn đạt khác nhau cho khái niệm về nghiệp vụ bao thanh toán, nhưng nói chung có thể hiểu nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn (trong ngắn hạn) từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ. Các loại hình bao thanh toán: ¾ Theo phạm vi thực hiện: - Bao thanh toán trong nước: là hình thức cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại hay công ty tài chính chuyên nghiệp cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú trong phạm vi một quốc gia Ô Quy trình thực hiện: ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân Trang 11 1. Hîp ®ång b¸n hμng Ng−êi b¸n Ng−êi mua 6.
ThÈm ®Þnh tÝn dông 7. ChuyÓn nh−îng ho¸ ®¬n 9. Thu nî khi ®Õn h¹n 10. Tr¶ lêi tÝn dông 5.
Thanh to¸n øng tr−íc 8. Thanh to¸n tr−íc §¬n vÞ bao thanh to¸n 1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng trên hợp đồng mua bán hàng hóa. (2) Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán tài trợ với tài sản bảo đảm chính là khoản phải thu trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa. (3) Đơn vị bao thanh toán tiến hành thẩm định khả năng thanh toán tiền hàng của người mua.
(4) Nếu xét thấy có thể thu được tiền hàng từ người mua theo đúng hạn hợp đồng mua bán, đơn vị bao thanh toán sẽ thông báo đồng ý tài trợ cho người bán. (5) Đơn vị bao thanh toán và người bán thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao thanh toán. (6) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa. (7) Người bán chuyển nhượng hóa đơn, chứng từ bán hàng và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán.
(8) Đơn vị bao thanh toán ứng trước một phần tiền cho người bán theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán. (9) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán tiến hành thu hồi nợ từ người mua. (10) Người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán. (11) Sau khi đã thu hồi tiền hàng từ phía người mua, đơn vị bao thanh toán thanh toán nốt tiền chuyển nhượng khoản phải thu cho người bán.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân Trang 12 - Bao thanh toán xuất nhập khẩu: là nghiệp vụ bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, các khách hàng và con nợ là những doanh nghiệp ở các nước khác nhau. Đơn vị bao thanh toán cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Ô Quy trình thực hiện: 1. H§ b¸n hμng Nhμ XK Nhμ NK (Ng−êi b¸n) 7.
Tr¶ lêi tÝn dông 8. ChuyÓn nh−îng ho¸ ®¬n 6. Thanh to¸n tr−íc 13. Thanh to¸n øng tr−íc 11.
Thu nî khi ®Õn h¹n 4. ThÈm®Þnh tÝn dông 3. Tr¶ lêi tÝn dông §¬n vÞ BTT XK 8. ChuyÓn nh−îng §¬n vÞ BTT NK 12.
Thanh to¸n, b¸o c¸o chuyÓn tiÒn (1) Người bán và người mua tiến hành thương lượng trên hợp đồng mua bán hàng hóa. (2) Người bán đề nghị đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tài trợ với tài sản đảm bảo chính là khoản phải thu trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa. (3) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu đề nghị đơn vị bao thanh toán nhập khẩu cùng thực hiện hợp đồng bao thanh toán. (4) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình hình hoạt động và khả năng tài chính của bên mua hàng.
(5) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu đồng ý tham gia giao dịch bao thanh toán với đơn vị bao thanh toán xuất khẩu. Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chấp thuận tài trợ cho người bán. (6) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và người bán thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao thanh toán. (7) Người bán giao hàng cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân Trang 13 (8) Đơn vị xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển nhượng hóa đơn cho đon vị bao thanh toán nhập khẩu. (9) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển tiền ứng trước cho người bán theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán. (10) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu tiến hành thu hồi nợ từ người mua. (11) Người mua thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu.
(12) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu trích trừ phí và lãi (nếu có) rồi chuyển số tiền còn lại cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu. (13) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu trích trừ phí rồi chuyển số tiền còn lại cho người bán. - Sự giống nhau và khác nhau giữa bao thanh toán nội địa và bao thanh toán quốc tế: @ Sự giống nhau: có nhiều điểm giống nhau cấu thành nên bao thanh toán nội địa và bao thanh toán quốc tế, như: • Tài trợ về tài chính trên cơ sở các khoản phải thu. • Kiểm soát tín dụng và chấp nhận rủi ro tín dụng.
• Theo dõi sổ cái bán hàng. • Thu nợ các hóa đơn bán hàng chưa thanh toán. Tuy nhiên, ngoài một số điểm giống nhau thì giữa bao thanh toán nội địa và bao thanh toán quốc tế cũng có nhiều điểm khác biệt đáng chú ý. Những sự khác nhau này được nhận xét theo cách vận hành của bao thanh toán theo tập quán quốc tế và sẽ có sự khác biệt nhất định khi áp dụng trong trường hợp của mỗi nước.
Bao thanh toán (BTT) nội địa Bao thanh toán(BTT) quốc tế Đơn vị BTT theo dõi và quản lý sổ cái Đơn vị BTT theo dõi và quản lý sổ cái bán hàng theo một đơn vị tiền tệ duy nhất, bán hàng theo nhiều loại tiền khác nhau, cùng loại với loại tiền đã được ứng trước. nếu có sự khác nhau giữa các loại tiền thanh toán trong các hợp đồng mua bán hàng hóa. Thông thường thì khoản ứng trước sẽ theo đơn vị tiền tệ thanh toán ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Bùi Kim Yến HVTH: Nguyễn Thái Bảo Luân Trang 14 Bao thanh toán (BTT) nội địa Bao thanh toán(BTT) quốc tế trong hóa đơn. Đơn vị BTT chịu trách nhiệm đồng thời Dưới hệ thống 2 đơn vị BTT, trong khi về việc kiểm soát tín dụng và chấp nhận đơn vị BTT xuất khẩu cung cấp sự bảo vệ rủi ro.
khỏi rủi ro tín dụng cho người bán theo sự đề nghị của đơn vị BTT nhập khẩu thì đơn vị BTT nhập khẩu chịu trách nhiệm kiểm soát tín dụng của nhà nhập khẩu địa phương. Thông thường được thực hiện trên cơ sở Hầu hết các giao dịch đều thực hiện trên BTT có truy đòi, đơn vị BTT không phải cơ sở không truy đòi, đơn vị BTT phải chịu rủi ro tín dụng. chấp nhận rủi ro tín dụng thay cho nhà xuất khẩu. Đơn vị BTT, người bán, người mua đều Có ít nhất là 2 hệ thống luật pháp chi phối bị chi phối chung bởi 1 hệ thống luật mối quan hệ của các bên.
pháp trong nước. Đơn vị BTT, người bán, người mua đều Tập quán kinh doanh và ngôn ngữ khác cảm thấy tiện lợi về ngôn ngữ và tập quán nhau ở mỗi quốc gia, hệ thống 2 đơn vị kinh doanh. BTT cho phép nhà xuất khẩu sử dụng được kỹ năng thị trường bản xứ của đơn vị BTT nhập khẩu. Đơn vị BTT chịu trách nhiệm thu tiền từ Trong hệ thống 2 đơn vị BTT, đơn vị người mua BTT nhập khẩu chịu trách nhiệm này.