MỞ ĐẦU Ở Việt Nam, với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội thuận lợi, khí hậu rất phù hợp cho các loài nấm phát triển quanh năm, giá thể dùng để sản xuất nấm dồi dào, tiềm năng lao động trong nông thôn lớn…. ngành trồng nấm đang được phát triển mạnh và rộng khắp. Nguyên liệu chính cho trồng nấm chủ yếu là các phế phụ liệu của nông lâm nghiệp nhưng tạo ra sản phẩm có giá trị cao, là nguồn thực phẩm quí giá và một số còn được ứng dụng vào công nghệ dược liệu. Vì vậy, việc phát triển nấm trồng ở nước ta rất thuận lợi [3].
Tuy nấm trồng có thể phát triển trên nhiều loại nguyên liệu khác nhau nhưng không phải nguyên liệu nào nấm cũng sử dụng được ngay mà cần phải qua quá trình chế biến thích hợp, thỏa mãn các điều kiện cần thiết về dinh dưỡng, độ ẩm, độ phân hủy, độ xốp, độ sạch khuẩn… Trước đây, khi chế biến nguyên liệu trồng nấm, người ta chú ý nhiều đến việc bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho nấm. Nhưng hiện nay, vấn đề quan tâm hàng đầu của nguời trồng nấm là việc khử trùng nguyên liệu. Để khử trùng nguyên liệu trồng nấm, người ta thường sử dụng phương pháp khử trùng bằng nhiệt bằng các nồi cao áp với nhiệt độ cao (121oC – 132oC), hay sử dụng phương pháp dùng hơi nước nóng (nhiệt độ thấp hơn 85 – 95oC, nhưng thời gian lại lâu hơn) [13]. Các phương pháp này tuy hiệu quả nhưng còn nhiều hạn chế: + Đầu tư thiết bị khử trùng tốn kém; + Chất lượng cơ chất bị biến đổi do nhiệt độ cao; + Chi phí nhiên liệu cao, đồng thời gây ô nhiễm môi trường; + Chỉ áp dụng tốt ở qui mô công nghiệp.
Chính những vấn đề này mà sự phát triển trồng nấm còn nhiều hạn chế. Bên cạnh phương pháp xử lý nguyên liệu bằng nhiệt theo qui mô công nghiệp thì nguyên liệu trồng nấm còn có thể được xử lý theo cách cổ điển thông qua việc ủ đống cho “lên men nguyên liệu” [4], [13]. Trong quá trình “lên men” nguyên liệu, các vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí giúp cho sự phân giải cơ chất phức tạp như 1 cellulose, hemicellulose, lignocellulose… thành các đường đơn giản, trong đó có vai trò quan trọng của xạ khuẩn. Sự phát triển của các chủng xạ khuẩn chịu nhiệt trong quá trình này giúp ức chế sự tăng sinh của các vi sinh vật gây thối làm ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu.
Tuy nhiên, quá trình “lên men” nguyên liệu theo cách cổ điển thường gặp nhiều rủi ro, kết quả không ổn định, nguyên nhân là do không chủ động được các vi sinh vật có lợi cũng như các điều kiện cần thiết cho quá trình lên men [13]. Nhằm giúp khắc phục những hạn chế của phương pháp khử trùng bằng nhiệt đồng thời có thể áp dụng ở phạm vi rộng với chi phí thấp, phù hợp với điều kiện trồng nấm ở Việt Nam, chúng tôi đặt ra vấn đề “Xử lý mạt cưa trồng nấm bằng xạ khuẩn không khử trùng bằng nhiệt” với các nội dung như sau: - Tuyển chọn các chủng xạ khuẩn có hoạt tính cellulase cao và có khả năng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật kiểm định; - Thử nghiệm xử lý mạt cưa trồng nấm bằng chế phẩm xạ khuẩn ; - Nuôi trồng nấm bào ngư trắng trên mạt cưa xử lý bằng chế phẩm xạ khuẩn.1 CÔNG NGHỆ TRỒNG NẤM 1.1 Sự phát triển của nghề trồng nấm Nấm ăn là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein và các amino acid, nấm còn chứa nhiều loại loại vitamin và các chất kháng sinh. Nấm được xem là một loại “rau sạch” và “thịt sạch”, được sử dụng ngày càng rộng rãi trong các bữa ăn của con người. Vì vậy, nghề trồng nấm trên thế giới đã được hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay và hiện nay đã lan rộng ra toàn cầu.
Ở Châu Âu, trồng nấm trở thành một ngành công nghiệp lớn, được cơ giới hóa toàn bộ, năng suất và sản lượng rất cao. Nhật là nước có sản lượng nấm lớn nhất thế giới, chủ yếu gồm nấm đông cô (Lentinus edodes), kim châm (Flammulina velutipes), trân châu (Pholiota nameko) và một số loại nấm khác [3]. Sự phát triển của nghề trồng nấm có thể có nhiều nguyên nhân, như tiến bộ của kỹ thuật, nhất là kỹ thuật vô trùng, sự bùng nổ thông tin và sự hình thành các hiệp hội trồng nấm…. Tuy nhiên, vấn đề chủ yếu vẫn là hiệu quả thu được từ công nghệ trồng nấm, một ngành nuôi trồng mà chỉ sử dụng nguyên liệu chính là phế liệu của nông lâm nghiệp như rơm rạ, bã mía, mùn cưa, bông thải… ít bị cạnh tranh bởi các ngành khác, nhưng sản phẩm lại là nguồn thực phẩm quí, giàu dinh dưỡng [4].
Ở Việt Nam, nghề trồng nấm cũng đang phát triển mạnh và rộng khắp, với các điều kiện thiên nhiên ưu đãi, nhất là các tỉnh phía Nam, chênh lệch giữa nhiệt độ tháng nóng và lạnh không cao, nên có thể trồng nấm quanh năm, không khí chứa nhiều hơi nước rất thích hợp cho nấm (do gần biển và nhiều sông hồ). Nguồn nguyên liệu dồi dào, trên 6 triệu tấn rơm rạ (nếu lấy tối thiểu 1,5 tấn rơm rạ/ha); lượng gỗ khai thác bình quân hàng năm là 3,5 triệu m3, tạo ra lượng mạt cưa khổng lồ cho trồng nấm, và các phế liệu khác cũng chiếm số lượng rất lớn như cùi bắp và thân cây bắp, bã mía, bông thải…. Lực lượng lao động còn nhàn rỗi ở nông thôn khá đông đảo, nhất là sau các mùa thu hoạch. Nhiều nơi có các làng nghề trồng nấm như Long An, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Long Khánh (Đồng Nai), những nơi này đã đào tạo một đội ngũ kỹ thuật viên có nhiều kinh nghiệm trong thực tế, sẽ là hạt nhân thúc đẩy phong trào trồng nấm lan rộng….
3 Tóm lại, với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội thích hợp thì sự phát triển nấm trồng ở nước ta rất thuận lợi [13].2 Nguyên liệu trồng nấm Trong thiên nhiên, hầu như tất cả các xác bã thực vật từ cành cây, lá khô, rơm rạ, cỏ dại, bẹ chuối khô, bã mía, lục bình… đều có thể dùng làm nguyên liệu trồng nấm. Tuy nhiên không phải nguyên liệu nào nấm cũng sử dụng được ngay, mà cần phải qua quá trình chế biến thích hợp, quá trình này bao gồm nhiều công đoạn với sự tham gia của các yếu tố khác nhau, bao gồm các yếu tố vật lý, hóa học và các yếu tố sinh học. Tùy theo loài nấm trồng mà có quá trình chế biến nguyên liệu phù hợp, nhưng đều trải qua giai đoạn đầu tiên là quá trình “lên men nguyên liệu”. Quá trình “lên men” trong trồng nấm là quá trình mà trong đó xảy ra các hoạt động của các vi sinh vật trong đống ủ, bao gồm cả nhóm hiếu khí và kỵ khí, quá trình này chủ yếu tạo ra các sản phẩm là những phân tử đường đơn như glucose, cần cho sự biến dưỡng của nấm.
Sự “lên men” đống ủ thường làm thay đổi rất nhanh số lượng quần thể vi sinh vật hiện diện trong nguồn nguyên liệu. Ban đầu, nguyên liệu có đầy đủ các nhóm vi sinh vật, bao gồm vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm men, nấm mốc. Hoạt động của các nhóm vi sinh vật này làm cho nhiệt độ tăng dần. Nhiệt độ đống ủ có thể tăng lên trên 60oC, sẽ hạn chế nhóm vi sinh vật ít chịu nhiệt, tạo điều kiện cho nhóm chịu nhiệt phát triển, chủ yếu là xạ khuẩn.
Xạ khuẩn hoạt động giúp phân giải các chất phức tạp như cellulose, hemicellulose, lignocellulose… thành các chất đơn giản cho nấm sử dụng, đồng thời xạ khuẩn cũng sinh tổng hợp kháng sinh ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác. Nguyên liệu trồng nấm sau quá trình “lên men” phần nào đã đảm bảo được đầy đủ dinh dưỡng và có thể được sử dụng để trồng nấm ngay. Giống nấm được cấy vào ở giai đoạn này sẽ sử dụng các chất đã được phân giải và phát triển nhanh trên môi trường, lấn át các vi sinh vật khác. Tuy nhiên, nếu không chủ động được các vi sinh vật chịu nhiệt trong quá trình “lên men” nguyên liệu trồng nấm, chủ 4 yếu là xạ khuẩn thì nhóm vi sinh vật chịu nhiệt kém hơn sẽ phát triển, làm chất lượng nguyên liệu giảm và trồng nấm không đạt năng suất [13].3 Khử trùng nguyên liệu trồng nấm bằng nhiệt Bên cạnh việc “lên men” nguyên liệu trồng nấm, vấn đề quan tâm hàng đầu của người trồng nấm hiện nay là việc khử trùng nguyên liệu.
Có nhiều phương pháp để khử trùng nguyên liệu nhưng phổ biến nhất là phương pháp khử trùng bằng nhiệt ẩm (hơi nước nóng). Tùy qui mô nuôi trồng nấm mà có điều kiện khử trùng thích hợp, có thể khử trùng trong điều kiện có áp suất hay không có áp suất (phương pháp hơi nước lưu thông). + Khử trùng có áp suất: thiết bị sử dụng là các nồi cao áp, nồi này giữ áp suất do hơi nước cung cấp và vì thế sẽ nâng nhiệt độ lên cao, nhiệt độ được nâng lên 121oC – 132oC, đủ khả năng diệt các mầm sống của vi sinh vật, đảm bảo nguyên liệu được khử trùng triệt để. Tuy nhiên, nhiệt độ cao đã phá hủy một phần các chất hữu cơ cần thiết cho nấm (đường, amino acid, vitamin…) làm chất lượng của nguyên liệu giảm sút, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nấm.
Đồng thời việc đầu tư thiết bị khử trùng đòi hỏi chi phí cao, chỉ thích hợp cho qui mô nuôi trồng công nghiệp. + Khử trùng không áp suất (hơi nước lưu thông): nguyên tắc của phương pháp này là đun sôi nước (chứa trong thùng phuy hoặc chảo), hơi nước nóng sẽ trao đổi nhiệt với nước trong nguyên liệu, gia nhiệt dần nguyên liệu đến nhiệt độ cao đủ khả năng diệt các mầm sống có trong nguyên liệu. Nhiệt độ cần đạt 85oC – 95oC, gia nhiệt kéo dài trong 5 giờ 30 phút – 6 giờ. Ngoài ra, có thể sử dụng phương pháp khử trùng gián đoạn, các túi được khử trùng 2 lần ở 95oC, mỗi lần kéo dài 3 giờ và cách nhau 24 giờ giữa 2 lần gia nhiệt.
Cách này không đòi hỏi các thiết bị đắt tiền, lại có thể khử trùng số lượng lớn bịch cùng một lúc. Quan trọng nhất là các chất dinh dưỡng trong nguyên liệu không bị phá hủy bởi nhiệt độ cao như trường hợp khử trùng với áp suất. Tuy nhiên, khả năng khử trùng chỉ tương đối, nhất là các bào tử nấm mốc, đồng thời do thời gian gia nhiệt kéo dài nên tiêu tốn nhiều nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường.