Mở đầu cho sự sôi động của văn học Tây Nguyên giai đoạn này là sự xuất hiện của nhà văn Kim Nhất. Nhà văn Kim Nhất (sinh năm 1945) nguyên là một nữ diễn viên, người dân tộc Bahnar (xã Bok Tới, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định). Sau khi theo chồng về sống tại Buôn Ma Thuột, bà sáng tác truyện ngắn đầu tay: Mụ Xoặi (1994). Từ khi tác phẩm Mụ Xoặi xuất hiện, đời sống văn học dân tộc ở Tây Nguyên như được tăng thêm nhuệ khí để phát triển.
Cụ thể: nhà văn Y Điêng sau một thời gian im lặng đã tiếp tục cầm bút, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Kpă Y Lăng (dân tộc Bahnar Chăm) quay lại làm thơ, Ka Sô Liễng (dân tộc Chăm Hroaih) ngoài đạo diễn sân khấu đã bắt đầu quan tâm đến sáng tác, Mlô Y Cla Vi (dân tộc Êđê) âm thầm lặng lẽ sáng tạo, H’Linh Niê (dân tộc Êđê) xuất hiện; tiếp đó là sự ra đời và tích cực, hồ hởi sáng tác của các tác giả: Đinh Xăng Hiền, Nga Ri Vê (dân tộc Hrê), Hồ Chư (dân tộc Vân Kiều), Niê Thanh Mai (dân tộc Êđê), Hoàng Thanh Hương (dân tộc Mường sống ở Tây Nguyên). Từ năm 2000 trở đi, văn học Tây Nguyên “nở rộ”. Bên cạnh các tác giả thực sự đã định hình, văn đàn Tây Nguyên có thêm nhiều gương mặt mới: K’Ra Zan Plin (dân tộc K’Ho), H’Trem Knul (dân tộc Êđê), Đinh Su Giang (dân tộc Ka Dong), Ksor Bi Tô (dân tộc Jrai), Hoàng Nhật Rlayang (dân tộc M’nông), Y Việt Sa (dân tộc Bahnar Rngao), H’Lứt Mlô (dân tộc Êđê), H’Siêu Buôn Yă (dân tộc Êđê), H’Xíu H’Mok (dân tộc Êđê), Y Du La Niê (dân tộc Êđê)… Trong số các tác giả mới đó, Tây Nguyên tự hào đón nhận hai cô gái Êđê: H’Phi La Niê và H’Wê Ra là hai nhà văn DTTS Tây Nguyên được đào tạo chuyên nghiệp. Nhìn lại các thế hệ nhà văn Tây Nguyên, ta thấy hầu như họ đều là các trí thức.
Đội ngũ những người viết văn DTTS vùng Tây Nguyên ngày càng được bổ sung đông đảo. Dù họ có thể còn chưa thực sự được độc giả cả nước biết đến nhưng họ đều đã chính thức gia nhập vào làng văn Tây Nguyên, góp phần làm nên diện mạo văn học một vùng quê hương luôn vang tiếng suối reo, gió hát và thấm đẫm âm hưởng cồng chiêng. Nằm trong không khí sôi động của sự phát triển văn chương ở Tây Nguyên, văn xuôi Tây Nguyên cũng bắt đầu trở nên phong phú kể từ khi Tạp chí Cư Yang Sin của Hội Văn học Nghệ thuật Đăk Lăk ra số đầu tiên năm 1986 (số có in truyện ngắn Mụ Xoặi của Kim Nhất). Từ đó, Kim Nhất liên tục gây bất ngờ với văn xuôi Tây Nguyên bằng hàng loạt các tác phẩm liên tiếp ra đời.
Có thể kể đến những tác phẩm là Truyện ngắn: Ly hôn (1998), Động rừng (1999), Hồn ma núi (2003), Huyền thoại Bok Kron (2005); Tiểu thuyết: Chuyện lạ (2007), Luật của rừng (2009), Hoa đại ngàn (2010), Truyện cổ và Truyện viết cho thiếu nhi: Truyện cổ Bahnar (1991), Truyện cổ Bahnar 2 (2000), Y Sanh và Y Rá (2002), Chúa sơn lâm mắc bẫy (2003), Người chăn dê (2005), Tôi được gặp Bác Hồ (2008) và các bài Bút ký khác, tiêu biểu nhất là Bút ký Về với Ban Mê (1996). Dù sáng tác của Kim Nhất có người nhận xét là: “Phần lớn chủ yếu ghi chép lại người thật, việc thật; ít chú ý đến nghệ thuật thể hiện” nhưng cũng có người nhận xét: “Truyện viết về buôn làng và truyện kì quái của Kim Nhất là hay nhất” và Kim Nhất cũng đã khẳng định được sự có mặt của mình trong đời sống văn học Tây Nguyên với lối viết đậm chất dân tộc từ nội dung tác phẩm đến các yếu tố nghệ thuật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Nhà văn Y Điêng sau một thời gian im lặng, ông liên tục hoàn thành các bản thảo truyện - ký ghi lại những câu chuyện từ thời kháng chiến chống Mĩ và những câu chuyện về người anh hùng Mnông. Ông cho ra đời hàng loạt Tiểu thuyết, Truyện ký: Chuyện bên bờ sông Hinh (1994), Sông Hinh, con sông quê hương (1995), N’Trang Lơng (2004), Lửa trong tay chúng tôi (2005), Trung đội người Bahnar (2010).
Khi sáng tác, ông ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với quê hương Tây Nguyên: “Chuyện của dân tộc mình phải chính mình viết. Mình không viết, không nói là mình mắc nợ với quê hương, với người thân”. Cuối cùng, với những lao động nghệ thuật bền bỉ, ông đã đem lại cho văn xuôi Tây Nguyên một dòng mạch riêng, đầy ắp hình ảnh quê hương, cuộc sống con người trên mỗi bản làng bằng một giọng văn dung dị. Ông xứng đáng là Cây Xà nu lớn trong làng văn xuôi Tây Nguyên.
Sau Kim Nhất và Y Điêng phải kể đến nhà văn hoá, nhà văn Tây Nguyên đa tài H’Linh Niê. Với tác phẩm đầu tay Gió vẫn thổi từ rừng (1994), và Tập truyện ngắn Con rắn màu xanh da trời (1996), H’Linh Niê chính thức bước vào làng văn Tây Nguyên. Từ đấy, H’Linh Niê không ngừng sáng tạo, chị liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau. Sau thành công của Con rắn màu xanh da trời (đạt Giải B Hội Văn học Nghệ thuật DTTS Việt Nam 1998), H’Linh Niê tiếp tục khẳng định mình bằng 2 tập truyện ngắn: Gió đỏ (2004), Pơ Thi mênh mang mùa gió (2009) và 5 tập bút ký Trăng Xí Thoại (1999), Đi tìm hồn chiêng (2003), Chân dung văn nghệ sĩ Tây Nguyên (2005), Nhân danh ai ? (2008), Tại gió mà nhớ (2015) cùng một loạt tác phẩm sưu tầm, chỉnh lý văn học: Sử thi Êđê Đam San thời thơ ấu (1998), Trường ca Bahnar Nàng Bia Lúi (2000), Truyền thuyết Mnông Núi Nâm Nung (2001), Thành ngữ dân gian Mnông (2010), Luật tục K’Ho (2011).
Bằng những sáng tạo của mình, H’Linh Niê giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về đời sống người dân ở các buôn làng Tây Nguyên thời kì hiện đại với tất cả những khó khăn, thuận lợi cũng như những cuộc đấu tranh vật vã để chống lại hủ tục, tư tưởng cũ; chống lại những tiêu cực, tệ nạn xã hội… để thoát khỏi cuộc sống đói nghèo, lạc hậu; vươn lên no ấm, làm giàu và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại mới. Sau lớp nhà văn trên là một thế hệ nhà văn mới, rất trẻ, đại diện cho tiếng nói văn xuôi Tây Nguyên đương đại. Đó là các cây bút: Niê Thanh Mai, H’ Phi La Niê, H’Siêu Buôn Yă … Trong đó, nổi bật là nhà văn nữ: Niê Thanh Mai. Là một người con dân tộc Êđê trưởng thành từ cao nguyên phố thị lại là một giáo viên giảng dạy Ngữ văn tại trường Trung học Phổ thông Dân tộc Nội trú N’Trang Lơng nên Niê Thanh Mai thấu hiểu tâm tư tình cảm và sự đổi thay trong lối sống, cách nghĩ của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 lớp thanh niên dân tộc đương đại.
Vì thế, chị có điều kiện phản ánh tất cả những điều đó trong các tác phẩm văn xuôi của mình. Với 3 tập truyện ngắn Suối của rừng (2005), Về bên kia núi (2007), Ngày mai sáng rỡ (2010), Niê Thanh Mai đã hình thành một lối viết riêng, một tiếng nói mới cho văn xuôi Tây Nguyên. Nhìn chung, văn xuôi Tây Nguyên sau 1986 trở đi thực sự có một diện mạo riêng với một đội ngũ các nhà văn đầy nhiệt huyết, đam mê, sung sức và đầy trách nhiệm với tiếng nói văn chương của dân tộc. Văn xuôi của họ đã bắt đầu có dấu ấn và mang đặc trưng của văn học DTTS vùng cao nguyên, có khả năng thu hút bạn đọc bởi sự phong phú đa dạng và màu sắc riêng biệt vừa quen vừa lạ.
Đó là những áng văn xuôi mang hơi thở của văn học dân gian Tây Nguyên với những trường ca, sử thi vĩ đại; thể hiện bản lĩnh, khí phách, tâm hồn phóng khoáng của con người và chất chứa bản sắc dân tộc độc đáo trong phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ và cả tình yêu rất riêng, rất mãnh liệt cùng những lo lắng trở trăn trong đời sống còn nhiều khó khăn thách thức của con người Tây Nguyên trên dải đất xanh tươi, hùng vĩ này. Có thể nói, văn xuôi Tây Nguyên nói riêng, văn học DTTS Tây Nguyên nói chung đã góp phần làm nên diện mạo của một nền văn học DTTS Việt Nam giàu bản sắc thời kì hiện đại. Nhà văn nữ Linh Nga Niê Kdam 1. Vài nét về tiểu sử Linh Nga Niê Kdam sinh ngày 08 tháng 08 năm 1948, tên bút danh là H’Linh Niê, hiện đang sống tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
Chị xuất thân trong một gia đình trí thức, quê ở thị trấn Ea Pok, huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắc Lắc. Mặc dù là một người con dân tộc Êđê nhưng chị được sinh ra và lớn lên tại Miền Bắc (cha chị là một trí thức Tây Nguyên tập kết, công tác tại Miền Bắc). Con chim hoạ mi Tây Nguyên Linh Nga Niê Kdam tham gia vào lĩnh vực Văn hóa Nghệ thuật từ rất sớm. Sau khi tốt nghiệp Phổ thông Trung học (1966), chị đã theo Đoàn Ca Múa Tây Nguyên đi biểu diễn khắp miền Bắc và phục vụ chiến trường Đường 9 - Nam Lào (1971).
Tốt nghiệp Đại học Thanh nhạc (1979), chị về công tác tại Buôn Ma Thuột và đã từng giữ nhiều cương vị trong lĩnh vực văn hoá, xã hội, nghệ thuật dân tộc như: Phó trưởng Đoàn Ca múa Đăk Lăk; Hiệu trưởng Trường Văn hoá nghệ thuật Đăk Lăk; Phó Giám đốc Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Tây Nguyên; Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhạc sỹ Việt Nam khóa VI, VII; Phó Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật DTTS Việt Nam khoá II, III; Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đăk Lăk khóa III; Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam khoá II, III, IV, V, VI, VIII; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Là một nghệ sĩ, một nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ ở Tây Nguyên được đào tạo bài bản, Linh Nga Niê Kdam có hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật, văn hóa, văn học Tây Nguyên.