MỞ ĐẦU 'Trong thiên nhiên, hiện tượng rụng trái non xảy ra ở nhiều loại cây. Do đó để tài “Bước đâu tìm hiểu vai trò của lá trong sự phát triển của. phát hoa, vai trò của auxin và acid abcisic của lá trong sự rụng trái non của giống xoài cát Hòa Lộc (Mangi/era iadica L.)” được thực hiện nhằm. tìm hiểu về sự tương quan giữa các cơ quan dinh dưỡng và sinh sản, các biến đổi sinh lý của lá, đặc biệt là sự thay đổi hàm lượng của auxin và acid abcisic trong lá ảnh hưởng như thế nào trong sự phát triển của phát hoa từ lúc mới thành lập đến lúc ra hoa, kết trái và trong sự rụng trái non, “ÔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Vị trí phân loại và nguồn gốc. Ngành: Magnoliophyta Lớp :Magnoliopsida Bộ :Rutales Họ : Anacardiaccae “Tên khoa học : Mangifera indica L. Xoài là loại cây ăn trái vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ Ấn Độ, Miến Điện và được trồng hơn bốn nghìn năm. Hiện nay, xoài được canh tác rộng rãi tại 60 nước thuộc vùng nhiệt đới và bán nhiệt đổi (Dương Minh và csv, 1996) [1].
Đặc tính hình thái và sự ra hoa của xoài Xoài là cây gỗ, cao 10 - 40 mét, có tần lớn và có thể sống đến một trăm năm. Khi trồng trên đất cao hoặc đổi núi, rễ có thể mọc sâu đến 9 mét, đất thấp mọc tới thủy cấp. Lá đơn mọc đối xứng, một chùm. 7 - 12 lá, có màu xanh đậm (Trần văn Minh, 1997) [2].
Phát hoa mọc ở ngọn các nhánh đã phát triển đẩy đủ trong năm trước, phát hoa mang nhiều nhánh, có khoảng 500 - 7000 hoa đực và hoa lưỡng tính, ỉ lệ hoa lưỡng tính chiếm từ 1 - 36 % (tùy giống). Hoa lưỡng tính có năm cánh mầu trắng vàng, năm đài hoa màu xanh và một bu noăn có tiểu noãn. Hoa đực có năm nhị đực gồm một có phấn và bốn bất thụ. Phấn dính khó tung nên chỉ thụ phấn nhờ côn trùng và gió, tỉ lệ thụ phấn cao khi trời nồng và khô.
Xoài trồng từ hột sẽ ra hoa sau 6 ~ 8 năm, cây tháp chỉ ra hoa. Ở đổng bằng sông Cửu Long, xoài ra hoa từ tháng 12 - 3 dương lịch (Dương Minh va csv, 1996) [1]. Yêu cầu về sinh thái ~_ Khí hậu: nhiệt độ chịu đựng 10% - 40C, tốt nhất 24°C ~ 27°C, Mac dù chịu hạn nhưng xoài rất cần nước để cho sản lượng cao. ~_ Đất: xoài mọc tốt trên nhiều loại đất, tốt nhất là đất cát hoặc thịt pha cát, thoát thủy tốt có thủy cấp khong sâu quá 2,5 mét.
- Xoài chịu được pH từ 5,5 - 7 (Dương Minh và csv, 1996) [1]. Phân bón 'Ở cây xoài trưởng thành nên bón tối thiểu 2 - 5 kgícây (phân N-P-K) và 1,5 - 3 kg urê, chia đều vào hai lẫn bón, vào đầu mùa mưa (lúc cây mang trái), vào tháng 9 - 10 dương lịch (lúc trước khi ra hoa) (Dương Minh và csv, 1996) [1]. Sự phát triển hoa và thành lập trái Sơ khởi hoa được thành lập từ ngọn chổi dinh đưỡng khi thực vật đạt tới giai đoạn trưởng thành. Sau khi được thành lập, sơ khởi hoa có.
thể tăng trưởng nhanh chóng hoặc rơi vào thời kỳ nghỉ trước khi hoa nở hoàn toàn, sẵn sàng cho việc thụ phấn và thụ tỉnh (Esau, 1967) 1131. 'Tế bào trứng sau khi thu tỉnh tạo nên hợp tử, hợp tử phát triển thành phôi. Phôi hạt là nguồn gốc tổng hợp auxin nội sinh quan trọng, khuyếch tán vào bau nhụy và kích thích sự lớn lên của bầu thành trái. Việc xử lý auxin ngoại sinh cho hoa sẽ thay thế được nguồn auxin nội sinh vốn được hình thành trong phôi và do đó không cẩn quá trình thụ phấn, thy tinh nhưng bầu nhụy vẫn lớn thành trái được nhờ auxin ngoại sinh.
Trong trường hợp này trái không qua thụ tỉnh và do đó không có hột (Vũ Văn Vụ và csv, 199) [9] Hột đang tăng trưởng là nguồn đặc biệt giàu auxin, giberelin va citokinin. Các trái tình sản (không hộ) có thể được tạo nhờ áp dụng riêng rẽ hay phối hợp các chất điểu hòa tăng trưởng thực vật, Do chứa nhiễu chất điều hòa tăng trường thực vật, hột hoạt động như những trung tâm huy động các chất biến dưỡng từ lá về hột, giúp sự tăng trưởng hột và các mô trái xung quanh (Biale, 1978; Crane, 1969; Mumtz ef al., 1985; Ray and Chourhur, 1981) [10, 12, 17,19]. Nói chung không có mối liên hệ giữa hàm lượng các chất điều hòa tăng trưởng thực vật trong trái và sự tăng trưởng trái (Crane, 1969) [12]. Tuy nhiên trong vài trường hợp: ‘Auxin và citokinin kích thích sự phân chỉa tế bào trong giai đoạn sớm của trái.
Giberelin và auxin kích thích sự kéo dài tế bào trong, giai đoạn tăng trưởng nhanh. Êtilen giúp sự tích trữ đường trong giai đoạn tăng trường sau cùng. Acid abcisic thường cần tăng trưởng trái và kích thích sự rụng trái non (Addicott ef al. Các chất điểu hoà tăng trưởng thực vật 3,1.
Định nghĩa Chất điều hòa tăng trưởng thực vật là những chất hữu cơ được tổng hợp từ một bộ phận cơ thể và được chuyển tới một bộ phân khác, nơi đó chúng kiểm soát sinh lý với ndng độ rất thấp. Chất điều hòa tăng trường thực vật không phải là chất dinh dưỡng, các sinh tố hay những nguyên tố khoáng cẩn thiết cho thực vật mà là các hợp chất hữu cơ (bao gồm các sản phẩm tự nhiên và nhân tạo) có tác dụng gây ra các phản ứng sinh lý ở nổng độ rất thấp. Các chất điều hòa tăng trưởng thực vật thường được gọi cùng tên của quá trình mà chúng tác động (ra hoa, tăng trưởng). 'Cho tới nay có năm nhóm chất điểu hòa tăng trưởng thực vật được thừa nhận: auxin, giberelin, citokinin, acid abcisic va étilen (Bùi Trang Việt, 2000) [7].
Tuy nhiên có nhiễu quan điểm về vai trò của chất này trên hiện tượng rụng: - Auxin của phiến lá là yếu tố bình thường kiểm soát sự rụng. Theo quan điểm này, lá là đơn vị sinh lý độc lập của hiện tượng rụng lá. Sự cắt bỏ phiến lá sẽ thúc nhanh sự rụng eda phan cuống lá còn lại; ngược lại, áp dụng auxin vào mặt ngoài của phẩn cuống bị cắt bỏ phiến lá sẽ làm chậm sự rụng. ~_ Cân bằng "auxin =auxin” kiểm soát sự rụng (Jacobs, 1962) [14].
“Thuyết thừa nhận auxin từ phiến lá bình thường di chuyển vào cuống và kiểm soát sự rụng. Tuy nhiên không thể xem lá là đơn vị sinh lý độc lập trong quá trình này, hiện tượng tương quan có vai trò trong sự rụng. Khi luồng auxin từ phiến lá giảm tới mức nào đó (do lá già, bị che bóng, bị cất bỏ), auxin từ nụ ngọn hay các lá non đang tăng trường di chuyển tới vùng rụng của các lá già hơn phía dưới và kích thích quá trình rụng tại đây. Các hoa có thể thúc sự rụng của trái hay hoa khác trên cùng một cây theo cách này (Jacobs, 1968) [15].
Khi đó auxin đồng vai tò "dấu hiệu tương quan” và di chuyển tới các mô đích vùng rụng, kích thích sự tạo * chất cản tương quan” này là acid abcisic, chất có vai trò kích thích sự rụng (Tamas ef al,, 1979) 120]. Auxin có mặt trong mô phân sinh (ngọn và lóng) phôi và lá non. Auxin được di chuyển đến các phẩn khác nhau trong cây theo hai con đường hữu cực hoặc thụ động. Theo con đường hữu cực, auxin được vận chuyển từ tế bào này sang tế bào khác theo mô hình hóa thẩm thấu và cẩn năng lượng.
Ngược lại, sự vận chuyển thụ động auxin trong mạch libe không cẩn năng lượng (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989) |4]. Ở nổng độ thấp < 10 mgí/l auxin kích thích sự rụng và ngược lại, cản quá trình này ở nỗng độ cao hơn. Trong trồng trọt, auxin được áp dụng ở nồng độ cao để cản sự rụng hoa, trái (nhưở tiêu, cà phê, cà chua) (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989) |4]. Acid abcisic được tổng hợp ở hấu hết các bộ phận của cây như: rễ, lá, hoa, củ, hạt.và tích lũy nhiễu nhất ở các cơ quan già, các cơ quan đang ngủ, nghỉ, cơ quan sắp rụng.
Chất này được vận chuyển trong cây theo cách không hữu cực trong mạch libe và mộc. Acid abcisic 1a chất đối kháng của giberelin, nên nó làm chậm sự tăng trường của các nhánh, do can sự kéo dài của các lóng. Acid_abcisic kéo dài sự ngủ của chổi và hạt, cản sự tăng trường của diệp tiêu và các mô nuôi cấy, kích thích sự lão và sự rụng của giế tiêu (Bùi Trang Việt, 1989) (6). Nhiều tác giả cho rằng acid abcisic là yếu tố chủ yếu kiểm soát sự rụng hoa và trái non vì hoạt tính chất này cao nhất trong hoa và trái non khi bất đầu rụng (Porter, 1977; Tamas et al.
Ở Lupinus, không có sự liên hệ giữa hàm lượng acid. abcisic nội sinh và phần trăm rụng hoa và trái non, do đó phải chăng các dẫn suất của acid abcisic chứ không phải chính acid abcisic cảm ứng sự rụng ? (Porter, 1977) [18].4, Giberelin Do nhà nghiên cứu bệnh lý thực vật Kurosawa (Nhat Bản) khi nghiên cứu cây lúa von, ở rễ lúa này có nấm Gibberella fujikuroi đã go ra một chất có tác dụng kéo dài tế bào được gọi là giberelin. Đây là tên gọi chung cho một nhóm 80 chất có cấu trúc hóa học tương tự nhau được kí hiệu là GAx theo thứ tự khám phá (Mai Trần Ngọc "Tiếng, 2001; Bùi Trang Việt, 2000) [5, 7]. 'Giberelin được tổng hợp trong phôi đang phát triển và mô non c chổi, được vận chuyển không phân cực trong hệ thống dẫn ibe mộc) (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989) |4].
Giberelin kích thích sự rụng ngay cả khi áp dụng đồng thời với AIA (Carns, 1969; Cooper et al, 1968; Jacobs, 1968) (ong Bùi Trang Việt, 1989) [6]. Citokinin Cilokinin được phát hiện đầu tiên bởi Skoog (1956). Sau đó Letham (1964) li trích được citokinin thiên nhiên đầu tiên từ mẫm bắp và ông đặt tên Ia zeatin, Citokinin ty do được tổng hợp ở mô phân sinh ngọn rễ, di chuyển trong mạch gỗ để tới chổi. Tuy nhiên các chổi và phôi cũng là nơi tổng hợp citokinin.
Citokinin có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của chổi nách, giảm fu tính ngọn, gỡ trạng thái ngủ của chổi, làm chậm sự lão hóa của lá (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1989; Bùi Trang Việt, 2000) [4, 7]. Citokinin, cũng như auxin cần sự rụng do cần sự lão suy tế bào (trạng thái cẩn thiết để. êdilen hoạt động kích thích sự rụng), dấu. cả hai chất này (auxin va citokinin) đều thúc sự tỏa khí êtilen (Abeles et al,,1967; Goldthvaite and Laesch, 1968) (rong Bùi Trang Việt, 1989) [6].
Btilen Êtilen được phát hiện đầu tiên vào năm 1901 bởi Neljubow. Hấu như ở tất cả các mô thực vật đều sản xuất khí êdlen.