ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay trong ngành công nghiệp đóng tàu nước ta và trên thế giới thực hiện việc đóng mới và sửa chữa tàu theo ba phương pháp chủ yếu sau: - ĐÓNG MỚI VÀ SỬA CHỮA TRÊN TRIỀN ĐÀ. - ĐÓNG MỚI VÀ SỬA CHỮA TRÊN Ụ CHÌM. - ĐÓNG MỚI VÀ SỬA CHỮA TRÊN ÂU NỔI. Phương pháp đóng mới và sửa chữa tàu bằng triền đà chủ yếu triển khai với việc đóng mới.
Ưu điểm của phương pháp này là đóng mới tàu rất thuận tiện, công việc được thực hiện trong không gian rộng, nhưng có nhược điểm là tính cơ động kém đòi hỏi nhà máy phải có triền đà, hệ thống tời, chằng, kéo và hạ thuỷ phải tốt. Khi cần sửa chữa tàu có trọng tải lớn thì việc hạ thủy và kéo tàu lên triền đà là rất khó khăn và tốn rất nhiều thời gian. Với phương pháp đóng mới và sửa chữa tàu bằng ụ chìm: Ụ chìm được tạo ra trên một khoảng đất rộng đào sâu có bờ bao quanh và cửa kín nước, có thể lấy nước vào và bơm nước ra ngoài. Bằng cách đóng hệ thống cửa kín nước của ụ chìm, bơm hết nước ra ngoài, công việc đóng và sửa chữa trong ụ chìm lúc này có thể coi gần giống trên đà.
Sau khi đã sửa chữa, đóng mới tàu xong mở cửa thu nước vào ụ làm cho tàu nổi lên để đưa tàu ra ngoài. Đối với phương pháp này thì nhà máy không cần có hệ thống triền đà. Nhưng phương pháp này có nhược điểm là phải tạo một khoảng đất rất rộng được đào sâu tối thiểu bằng độ sâu của đáy sông hoặc cửa sông bên ngoài, phải có hệ thống đóng mở cửa ụ chìm kín nước thật tốt. Phương pháp này khắc phục được việc kéo và hạ thuỷ tàu, thời gian lên đà và hạ thủy tàu là rất nhanh, an toàn, giá thành đầu tư thấp.
Phương pháp này có thể áp dụng để đóng và sửa chữa những tàu có trọng tải lớn. Hiện nay, ở nước ta đã có ụ chìm để đóng mới và sửa chữa tàu có trọng tải lên tới hàng chục vạn tấn, điển hình như ụ chìm của NguyÔn V¨n To¸n. Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005. §HBKHN 2 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc Hyundai Vinashin.
Tuy nhiên cũng như phương pháp đóng mới và sửa chữa tàu bằng triền đà phương pháp này cũng có nhược điểm là tính cơ động không cao. Với phương pháp đóng mới và sửa chữa bằng âu nổi: Âu nổi là phương tiện thủy có thể thu nước vào khoang dằn để chìm xuống và có thể xả nước ra để nổi lên. Việc thu nước đó được thực hiện bằng các hệ thống van thu và van nhánh phối hợp với nhau, mở cửa van đưa nước vào âu và được gọi là quá trình đánh chìm âu nổi. Còn việc xả nước ra được thực hiện nhờ hệ thống các bơm xả, van xả, van nhánh phối hợp với nhau xả nước ra ngoài cho âu nổi lên và được gọi là quá trình làm nổi.
Việc đóng mới và sửa chữa tàu trên Âu nổi được thực hiện bằng cách đánh chìm đưa tàu vào âu, xả hết nước từ âu nổi ra ngoài nhờ các bơm xả, van xả, van nhánh để âu nâng tàu lên. Lúc này thực hiện việc đóng mới và sửa chữa tàu trên âu nổi hoàn toàn giống như trên đà hoặc ụ chìm. Sau khi việc đóng mới và sửa chữa được hoàn tất thì việc hạ thủy tàu rất đơn giản, chỉ cần thực hiện quá trình đánh chìm âu sau đó đưa tàu ra ngoài. Cũng như phương pháp đóng và sửa chữa tàu bằng ụ chìm, đối với âu nổi nhà máy không cần phải có triền đà.
Ngoài ra âu nổi còn khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp đóng mới và sửa chữa tàu ở trên là tính cơ động của ụ nổi rất cao, có thể di chuyển dễ dàng nhờ các tàu lai dắt. Chính vì vậy việc đóng mới, sửa chữa trên âu nổi có thể thực hiện trên phạm vi rộng. Tuy vậy nó có nhược điểm là không thể làm được âu nổi quá lớn vì đầu tư tốn kém, công nghệ thực hiện khó khăn, quá trình cân bằng âu phức tạp. Hiện nay ngành đóng tàu nước ta mới chỉ trang bị âu nổi cỡ 8.500T như âu nổi ở nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Công ty đóng tàu và công nghiệp Hàng hài Sài gòn và một số nhà máy đóng tàu khác có trọng tải nhỏ hơn.
Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005. §HBKHN 3 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc âu nổi này chỉ mới được trang bị khá đơn giản về mặt điều khiển, việc cân bằng được thực hiện bằng tay, dựa vào kinh nghiệm của người vận hành. Như đã nêu trên, âu nổi là phương tiện thủy nên trong quá trình đánh chìm và làm nổi sẽ xảy ra quá trình động học liên quan đến việc cân bằng. Khi đánh chìm và làm nổi, âu sẽ có hiện tượng mất cân bằng, nghiêng lệch theo phương nào đó và việc xử lý quá trình nghiêng lệch bằng tay là rất chậm, khó khăn không đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt là đối với các âu lớn.
Để giảm bớt khó khăn trong quá trình vận hành, âu phải được trang bị hệ thống tự động phát hiện độ nghiêng lệch để từ đó ra lệnh thực hiện đóng mở các van thu, van nhánh thu, xả nước vào và ra khỏi âu một cách hợp lý giữ cho âu cân bằng. Trên thực tế các âu này khi thiết kế đều có khả năng điều khiển bằng tay được. Hơn nữa, âu được thiết kế để luôn luôn có khả năng điều khiển được, khái niệm điều khiển được ở đây hiểu theo nghĩa: quá trình cân bằng âu luôn luôn có khả năng thực hiện được chỉ bằng cách thêm hoặc bớt nước của các khoang một cách hợp lý. Như vậy với các yêu cầu và tính điều khiển được của âu bản luận văn tập trung nghiên cứu đưa ra một giải pháp thiết kế hệ thống tự động hoá cho quá trình đánh chìm và làm nổi âu, cụ thể là âu có trọng tải 8.500T nhằm góp phần phục vụ tốt hơn cho việc đóng mới và sửa chữa tàu biển.
Để xét quá trình cân bằng của âu, trước hết coi mặt phẳng của nước là mặt phẳng ngang tuyệt đối, còn góc nghiêng của âu là góc giữa mặt sàn nằm ngang chuẩn của âu và mặt phẳng nước.Với các giả thiết này, ta dễ dàng đưa ra 8 trường hợp cơ bản biểu thị sự nghiêng lệch của âu như sau: - Lệch trước (Chúi mũi ). - Lệch phải (Nghiêng mạn phải) NguyÔn V¨n To¸n. Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005. §HBKHN 4 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc - Lệch trước và Lệch phải.
- Lệch trước và Lệch trái. - Lệch sau và Lệch phải. - Lệch sau và Lệch trái. Sự nghiêng lệch này rút ra từ những nhận xét sau: - Độ nghiêng lệch âu dựa trên việc quan sát 4 phương theo kiến trúc thực tế của âu gồm: Mũi, Đuôi, Mạn trái, Mạn phải.
- Độ nghiêng lệch âu không có tính mâu thuẫn, không phủ định nhau chẳng hạn: Không thể vừa nghiêng mạn trái vừa nghiêng mạn phải trong cùng một thời điểm, không thể vừa nghiêng mũi vừa nghiêng đuôi trong cùng một thời điểm. Minh hoạ cho độ lệch thể hiện dưới hình 1.2: sl1 sl Gb Gc 1 4 6 8 10 12 sa1 sa 2 13 sh sh1 3 5 7 9 11 14 Ga Gd sr sr1 sl sa sh sr Hình 1.1 Sơ đồ bố trí các sensor. Trong đó: - SA, SA1: Tương ứng là Sensor phát hiện lệch sau, lệch sau quá phạm vi cho phép. Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005.
§HBKHN 5 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc - SH, SH1: Tương ứng là Sensor phát hiện lệch trước, lệch trước quá phạm vi cho phép. - SR, SR1: Tương ứng là Sensor phát hiện lệch phải, lệch phải quá phạm vi cho phép. - SL, SL1: Tương ứng là Sensor phát hiện lệch trái, lệch trái quá phạm vi cho phép. - GA, GB, GC, GD: Tương ứng là Sensor phát hiện mớn nước bốn góc của âu.
Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005. §HBKHN 6 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc ¢u c©n b»ng B C A D LÖch sau LÖch gãc D B C A D LÖch tr-íc LÖch gãc B B C A D LÖch ph¶i LÖch gãc A B C A D LÖch tr¸i LÖch gãc C Hình 1.2 Các trường hợp nghiêng lệch của âu nổi. Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005. §HBKHN 7 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc Hình 1.3 Ảnh một số âu nổi trên thế giới.
Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005. §HBKHN 8 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc Hình 1.4 Sơ đồ bố trí chung của âu nổi. Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005. §HBKHN 9 LuËn v¨n tèt nghiÖp cao häc 1.2 SƠ ĐỒ CÁC KHOANG DẰN CỦA ÂU.
Âu nổi vỏ thép 8.500T được thiết kế với chiều dài 150m, chiều rộng 21m và trọng lượng bản thân đến 8. Âu có 6 phao đáy, kết cấu các phao tương tự nhau. Mỗi phao chia ra làm 02 khoang, riêng phao đầu và phao cuối cùng chia làm 03 khoang. Toàn bộ có 14 khoang, trên mỗi khoang được thiết kế với 02 van nhánh do vậy tổng cộng có 28 van nhánh làm nhiệm vụ đóng mở để làm nhiệm vụ thu và xả nước ở các khoang trong quá trình đánh chìm và làm nổi âu.5 Sơ đồ phân vùng các khoang dằn Kích thước chủ yếu của âu nổi: - Chiều dài lớn nhất : L max = 162,00 m - Chiều dài boong công tác : L = 143,20 m - Chiều rộng lớn nhất : B max = 38,40 m - Chiều rộng theo mạn ngoài : B = 36,00 m - Chiều rộng lòng âu : BLA = 29,00 m - Chiều cao đến boong đỉnh : H = 17,00 m - Chiều cao đến boong an toàn : Hat = 14,00 m - Số lượng phao đáy : n=6 - Chiều dài phao đáy (theo chiều dài âu) : l = 23,20 m - Chiều rộng phao đáy : b = 36,00 m NguyÔn V¨n To¸n.
Líp Cao häc Tù ®éng ho¸ 2003-2005.