CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan về sức khỏe sinh sản của phụ nữ Nhiễm phụ khoa được coi là bệnh nhiễm trùng phổ biến đặc biệt ở các nước nhiệt đới như Việt Nam và có tới 90% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ mắc bệnh này. Viêm âm đạo do vi khuẩn (Bacterial vaginosis - BV) là nhiễm trùng âm đạo nội sinh, gây ra chủ yếu bởi Gardnerella vaginalis, Mycoplasma hominis, vi khuẩn kị khí. Bệnh gây ra do sự thay thế vi khuẩn thuộc chi Lactobacillus và Bacillus (nhóm vi khuẩn có lợi của âm đạo), dẫn đến tình trạng phát triển quá mức của vi khuẩn yếm khí. Viêm âm đạo găp ở tất cả các chủng người, tần suất cao nhất của viêm âm đạo do vi khuẩn là người da đen (23%) vầ thấp nhất là Châu á (6%).
Tại Hoa Kỳ, theo khảo sát của Y tế Quốc gia thì tỉ lệ mắc BV chiếm 29% phụ nữ tuổi từ 14-49 và 50%ở người Mỹ gốc Phi [12]. Ở Hoa Kỳ, nghiên cứu của Gavin và cộng sự (2009) về sức khỏe sinh sản và tình dục từ 2002-2007 cho thấy riêng năm 2006, có khoảng một triệu người ở tuổi vị thành niên và thanh niên ( 10-24 tuổi) ở 33 bang đã bị lậu do nhiễm Chlamydia hoặc giang mai. Ở các quốc gia đang phát triển, có nhiều nghiên cứu đã được báo cáo với tỉ lệ mắc bệnh cũng rất cao. Nghiên cứu của Aggarwal và cộng sự (1999) trên 2.325 phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại vùng nông thôn Harryana, Ấn Độ cho thấy có tới 61% mắc ít nhất một triệu chứng của viêm nhiễm đường sinh sản, viêm âm đạo là 32%, viêm cổ tử cung là 21%, bệnh lý viêm khung chậu là 19%, xét nghiệm dịch âm đạo có 48% viêm âm đạo do vi khuẩn Gardnerella vaginalis, Bacteroides spp., Prevotella bivia…, 9% do trùng roi âm đạo và 0,8% do nấm C.
Một số nghiên cứu trên phụ nữ tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi có chồng tại một số vùng nông thôn cho kết quả là tỷ lệ nhiễm trùng đường sinh sản là 63,8%, trong đó viêm âm đạo đơn thuần là 37,4%; viêm cổ tử cung (CTC) đơn thuần và kết hợp viêm âm đạo là 17,9%; lộ tuyến CTC đơn thuần và kết hợp viêm âm đạo là 8,9%. Vi sinh vật gây bệnh hay gặp là tạp khuẩn 59,8%; nấm 23,3%; Trichomonas 0,6%; Gardnerella 6,7%. Tỷ lệ nhiễm trùng đường sinh sản của phụ nữ tuổi sinh đẻ có chồng tại 5 tỉnh phía Bắc là 43,1%. Trong đó, viêm âm đạo là 44,2%; viêm CTC là 28,3%; viêm âm hộ là 3,2%.
Nguyên nhân gây bệnh do vi khuẩn chiếm 64,8%; do nâm là 19,8%; do Trichomonas 1,9% và phối hợp là 13,5% [11]. Một nghiên cứu khác tại 5 tỉnh trong cả nước năm 2011 cho kết quả là ở nội thành Hà Nội có 41,5% phụ nữ bị nhiễm trùng đường sinh sản, trong đó do vi khuẩn chiếm 25,6%, do nấm chiếm 15,3%. Vùng ngoại thành Hà Nội có tới 59,6% phụ nữ bị nhiễm 3 trùng đường sinh sản, trong đó nhiễm nâm cao nhất 39,9%, do G. vaginalis là 18,9%, các vi khuẩn khác chiếm tỷ lệ thâp hơn, tỷ lệ nhiễm cả hai căn nguyên là 15,7% [2].
Vùng ven biển Thái Bình có 56,9% phụ nữ bị nhiễm trùng đường sinh sản, trong đó cao nhất là do nấm C. vaginalis khá cao 26,8%, do vi khuẩn khác có tỷ lệ thấp hơn, do lậu cầu 0,3%, nhiễm 2 căn nguyên trở lên là 21,7%. Vùng chiêm trũng Hà Nam có 58,4% phụ nữ bị nhiễm trùng đường sinh sản, trong đó cao nhất là do nấm C. vaginalis 18,7%, do vi khuẩn khác có tỷ lệ thâp hơn.
Vùng núi tỉnh Nghệ An, tỷ lệ phụ nữ mắc nhiễm trùng đường sinh sản rất cao, chiếm 64,1%, cao nhất trong các vùng mà tác giả nghiên cứu, trong các tác nhân gây bệnh, cao nhât là do nâm 32,31%, do G. vaginalis là 28,7%, do vi khuẩn khác có tỷ lệ thấp hơn [2]. Vùng đồng bằng tỉnh Hải Dương, có 52,0% phụ nữ bị nhiễm trùng đường sinh sản, trong đó cao nhất là do tụ cầu chiếm 19,0%, xếp sau là do nâm 14,7% và do E. Lê Hoài Chương (2011) khảo sát 960 phụ nữ 18-49 tuổi đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2011 và phát hiện thấy có 83,1% phụ nữ có ít nhất một hình thái tổn thương đường sinh dục dưới, trong đó viêm âm đạo chiếm tỷ lệ cao nhất (66,6%), viêm âm đạo kết hợp CTC chiếm 33,8%, tỷ lệ nhiễm nâm chiếm 35,3%; nhiễm Gardnerella chiếm 15,9% [2].
Mặc dù nhiễm trùng đường sinh sản có thể có các triệu chứng khác nhau, nhưng không phải lúc nào phụ nữ cũng dễ dàng nhận ra. Trên thực tế, chẩn đoán thậm chí còn khó khăn đối với một bác sĩ có kinh nghiệm. Các trường hợp nhiễm trùng nặng được bác sĩ chỉ định điều trị bằng kháng sinh phổ rộng với liêu khá cao nên gây ra các tác dụng phụ như chán ăn, mệt mỏi, ảnh hưởng tới sức khoẻ và sinh hoạt tình dục, và nếu được điều trị tái lặp sẽ dẫn tới tình trạng kháng thuốc kháng sinh, một vấn đề nổi cộm và thách thức hiện nay.Probiotic và vai trò của probiotic 1.Định nghĩa Probiotic là một loại lợi khuẩn thuộc nhóm vi sinh vật sống, thường là vi khuẩn, khi đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ thì có lợi cho sức khỏe. Theo WHO với lượng là 108 đơn vị hay 100 triệu đơn vị tế bào lợi khuẩn được WHO quy định là liêu đầy đủ số lượng probiotic cho mỗi lần bổ sung, tùy thuộc vào tình trạng, mỗi người có thể sử dụng tới 1011 đơn vị.
Vi khuẩn thuộc chi Lactobacillus và Bacillus thường được xem là những loại probiotic phổ biến. Trên thực tế, cơ thể con người bao gồm cả vi khuẩn có lợi và có hại. Vi khuẩn có lợi thường không gây bệnh và có thể giúp kìm hãm các vi khuẩn có hại, giúp cải thiện tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng cũng như tăng cường khả năng miễn 4 dịch. Khi vi khuẩn có hại trong cơ thể lấn át được vi khuẩn có lợi, đó là lúc cần sử dụng các chế phẩm sinh học để lấy lại sự cân bằng của khu hệ vi sinh vật trong cơ thể.
Probiotics là những chế phẩm có chứa các vi sinh vật sống, khi đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ thì có lợi cho sức khỏe, đặc biệt là hệ tiêu hóa [57]. Theo khuyến cáo tối thiểu của WHO / FAO : Một probiotics được xem là “tốt” nếu đáp ứng 5 yếu tố sau: - Chế phẩm chứa vi sinh vật sống. - Xác định cụ thể chi, loài, chủng và được phân lập tới chủng. - Đảm bảo liều lượng lợi khuẩn cho đến hết hạn sử dụng (tối thiểu 108 đơn vị).
- Hiệu quả đạt được chúng minh qua các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trên người. - Có bằng chứng về độ an toàn trên người.Vai trò của probiotic Trên thực tế, cơ thể con người bao gồm cả vi khuẩn có lợi và có hại. Vi khuẩn có lợi thường không gây bệnh và có thể giúp kìm hãm các vi khuẩn có hại, giúp cải thiện tiêu hóa và hâp thu dinh dưỡng cũng như tăng cường khả năng miễn dịch. Khi vi khuẩn có hại trong cơ thể lấn át được vi khuẩn có lợi, đó là lúc cần sử dụng các chế phẩm sinh học để lấy lại sự cân bằng của khu hệ vi sinh vật trong cơ thể [27].
Tác động kháng khuẩn - Làm giảm số lượng vi khuẩn để ngăn chặn các mầm bệnh cụ thể là: Tiết ra các chất kháng khuẩn: Vi khuẩn probiotic tạo ra các chất đa dạng có thể ức chế cả khuẩn Gram (+) và Gram (-), gồm có các acid hữu cơ, hydrogen peroxide và chất diệt khuẩn. Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh có thể sống được mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố. Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH môi trường khoang ruột thông qua việc tạo ra các acid hữu cơ đặc biệt là acid lactic, cũng như một số acid béo chuỗi ngắn dễ bay hơi, chủ yếu là acetate, propionate, và butyrate. - Cạnh tranh với các nguồn bệnh để ngăn chặn sự bám dính vào đường ruột và cạnh tranh dinh dưỡng cần thiết cho sự sống sót của mầm bệnh.
Tác động trên mô biểu bì ruột Đẩy mạnh sự liên kết chặt giữa những tế bào biểu mô. Giảm việc kích thích bài tiết và những hậu quả do bị viêm gây ra do lây nhiễm vi khuẩn. Đẩy mạnh sự tạo ra các phân tử phòng vệ như chất nhầy [27]. Probiotic được xem như là phương tiện phân phát các phân tử kháng viêm cho đường ruột.
Cụ thể là đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm giảm đáp ứng viêm, 5 tạo đáp ứng miễn dịch để làm giảm dị ứng và cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, ngăn ngừa tiêu chảy và táo bón. Tác động đến vi khuẩn đường ruột Điều chỉnh thành phần cấu tạo của vi khuẩn đường ruột. Sự sống sót của probiotic ở những phần khác nhau của bộ phận tiêu hóa thì khác nhau giữa các giống. Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm thời của hệ sinh thái đường ruột, sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu sự tiêu thụ thường xuyên, vi khuẩn probiotic định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điêu này thì đúng cho tất cả các loại probiotic. Vi khuẩn probiotic điêu hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường ruột. Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột.
Vi khuẩn probiotic cũng giúp làm tăng sự dung nạp đường lactose thông qua việc giúp tránh khỏi tình trạng đầy hơi, khó tiêu khi hâp thu những loại thức ăn có chứa nhiều lactose và làm tăng vi khuẩn có lợi và giảm vi khuẩn gây hại. Một số vai trò khác đối với cơ thể - Chống dị ứng: thực phẩm probiotic góp phần chống lại một số dị ứng của cơ thể, cung cấp nhiều chất quan trọng cho cơ thể như các vitamin (folic acid, niacin, riboflavin, vitamin B6 và B12) [27]. - Chống ung thư: nhiêu nghiên cứu cho thấy các vi khuẩn probiotic có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết và ung thư bàng quang. Ngoài ra còn có tác dụng khử chất độc gây ung thư có trong cơ thể và làm chậm sự phát triển của các khối u bướu [27].