Chương 1: Lý do chọn đề tài, tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học – thực tiễn, đối tượng, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sơ lý thuyết về nung kim loại sau biến dạng dẻo, lý thuyết về nhiễu xạ X-Quang, tính ứng suất dư, đo ứng suất dư sử dụng phương pháp mẫu dao động. - Chương 3: Thiết kế chế tạo thiết bị dao động mẫu, qua các phướng án lựa chọn phù hợp với máy X-Quang - Chương 4: Tạo mẫu thí nghiệm. - Chương 5: Đo ứng suất dư bằng phương pháp dao động.
- Chương 6: Kết luận, kiến nghị 5 Luan van Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Biến dạng dẻo 2.1 Khái niệm Biến dạng dẻo là biến dạng còn dư lại sau khi bỏ ngoại lực tác dụng. Trong công nghiệp có nhiều dạng gia công kim loại có liên quan tới biến dạng dẻo. Có nguyên công lợi dụng biến dạng dẻo để tạo hình chi tiết hay bán thành phẩm như rèn, cán, kéo, ép chảy., có nguyên công khác như tiện, phay, bào, mài. không tránh khỏi có biến dạng dẻo xảy ra.
Các công trình kết cấu kim loại, chi tiết máy và dụng cụ trong sử dụng nói chung không cho phép xảy ra biến dạng dẻo. Gia công biến dạng dẻo không chỉ làm thay đổi hình dạng, kích thước của vật thể kim loại mà còn thay đổi tổ chức, cấu trúc và tính chất của vật liệu. Nắm vững lý thuyết biến dạng dẻo giúp ta hiểu rõ bản chất độ bền, độ dẻo của kim loại, tìm kiếm phương pháp và giải pháp hoá bền kim loại, cải tiến công nghệ nâng cao chất lượng gia công kim loại.2 Cơ chế hình học của biến dạng dẻo Trên phương diện hình học, người ta chứng minh được biến dạng dẻo xảy ra bằng phương thức trượt, song tinh hoặc chuyển biến pha mactenxit.3 Biến dạng trượt trong đơn tinh thể 2.1 Trượt Trượt là sự dịch chuyển tương đối hai phần tinh thể với nhau theo một mặt và phương nhất định gọi là mặt trợt và phương trượt (hình 2. Khoảng cách dịch chuyển tương đương thông số mạng hay số chẵn lần thông số mạng, như vậy sau khi trượt, mối liên kết của một nguyên tử với các nguyên tử xung quanh được khôi phục lại như cũ.1: Mô hình trượt trong mạng tinh thể [1] 6 Luan van a) Mặt, phương trượt Kết quả nghiên cứu bằng nhiễu xạ Rơnghen cho biết, mặt trượt và phương trượt thường là mặt và phương có mật độ nguyên tử cao nhất của mạng.
Một mặt trượt và một phương trượt trên mặt trượt đó tạo thành một hệ trượt. b) Ứng suất trượt Thực nghiệm và lý thuyết đều cho biết chỉ có thành phần ứng suất tiếp trên mặt và phương trượt mới gây ra trượt, còn ứng suất pháp không gây trượt. Để kim loại bắt đầu trượt, thành phần ứng suất tiếp phải đạt tới giá trị nhất định. Người ta gọi ứng suất tiếp cần thiết để kim loại bắt đầu trượt là ứng suất tiếp tới hạn th.
Cùng một ngoại lực tác dụng thì trên các mặt trượt và phương trượt có định hướng khác nhau có giá trị ứng suất tiếp sẽ khác nhau. Như vậy góc định hướng tương đối giữa ngoại lực với mặt và phương trượt có ý nghĩa quan trọng đến khả năng xảy ra trượt. c) Độ bền lý thuyết của tinh thể Trong tinh thể lý tưởng hoàn toàn không có khuyết tật mạng, muốn trượt xảy ra, tức muốn hai phần tinh thể xê dịch tương đối với nhau một khoảng cách nguyên tử thì tất cả nguyên tử trên mặt trượt phải dịch chuyển đồng thời một khoảng cách bằng thông số mạng. Cách trượt như vậy gọi là trượt cứng.
Ứng suất th cần cho sự trượt này rất lớn để khắc phục được cùng một lúc tất cả các mối liên kết giữa các nguyên tử ở hai bên mặt trượt. Giá trị ứng suất đó do Frenkel tính được theo biểu thức: G th ; 2 Đây chính là độ bền lý thuyết của kim loại nó lớn hơn giá trị thực tế đo được bằng thực nghiệm từ 500 đến 1000 lần. Sở dĩ có sự khác biệt lớn như vậy là vì trong tinh thể kim loại thực có tồn tại nhiều lệch mạng. Khi trong tinh thể có chứa lệch mạng, dưới tác dụng của ngoại lực đường lệch chuyển động khi thoát ra khỏi bề mặt tinh thể sẽ gây nên hiệu ứng trượt tinh thể.
7 Luan van Hình 2.2: Sự chuyển dịch của lệch biên gây ra biến dạng dẻo.2 là mô hình trượt trong mạng tinh thể thực có khuyết tật chủ yếu là lệch. Dưới tác dụng của ứng suất tiếp hai phần tinh thể trượt đi với nhau nhờ sự dịch chuyển của lệch ( hình 2. Đặc điểm của cơ chế trượt này là: - Trong quá trình trượt chỉ cần ứng suất đủ lớn để dứt đứt một số mối liên kết các nguyên tử ở vùng lệch chuyển qua - Các nguyên tử không đồng thời phải dịch chuyển và chỉ dịch chuyển với khoảng cách nhỏ.4 Sự biến đổi trong kim loại sau biến dạng dẻo 2.1 Sự biến đổi của tổ chức tế vi a) Sự biến đổi hình dạng hạt tinh thể Trong biến dạng dẻo, hình dạng hạt tinh thể biến đổi dần dần theo mức độ biến dạng. Quy luật chung, hình dạng hạt tinh thể biến dạng tương ứng với sự biến dạng của vật thể.
Ví dụ khi vật liệu chịu kéo thì hạt tinh thể cũng dần được vuốt dài theo trục kéo, cuối cùng khi biến dạng kéo rất lớn các hạt bị vuốt thành những sợi, thớ dọc trục. Ngược lại khi vật thể bị ép, các hạt tinh thể cũng dần dần bị đàn trải rộng theo hướng vuông góc với ngoại lực 8 Luan van a/ b/ Hình 2.3: Sự thay đổi hình dạng hạt tinh thể sau biến dạng dẻo. Khi độ biến dạng dẻo lớn (trên 20% trở đi), độ biến dạng của các hạt dần dần đồng nhất hơn. Đối với tổ chức hợp kim nhiều pha, sự biến dạng không đồng đều giữa các pha khác nhau càng rõ rệt, đặc biệt khi giữa các pha có cấu trúc mạng, thành phần và tính chất khác nhau lớn.
Khi biến dạng dẻo lớn theo một hướng (ví dụ cán) các pha khác nhau bị vuốt dài theo hướng biến dạng tạo thành tổ chức dải, đồng thời với sự thay đổi hình dạng của hạt và sự xuất hiện nhiều đường trượt và dải trượt bên trong hạt. Tuỳ theo cấu trúc kim loại, phương thức và điều kiện biến dạng khác nhau, các dải trượt có thể dạng thẳng, dạng sóng hoặc dạng giao cắt nhau. Dải trượt có loại rộng, có loại hẹp, số lượng và cách phân bố của nó cũng khác nhau giữa các hạt, thậm chí ngay giữa các phần trong một hạt. b) Mật độ khuyết tật mạng tăng Biến dạng dẻo làm tăng mật độ khuyết tật mạng, đặc biệt ở giai đoạn đầu của biến dạng dẻo mật độ khuyết tật mạng tăng rất nhanh.
Khi độ biến dạng dẻo lớn (trên 4060%), mật độ khuyết tật mạng dần đạt tới giá trị bão hoà. Do mật độ khuyết tật mạng tăng làm cho kim loại sau biến dạng dẻo có thể tích trữ tới 510 % tổng năng lượng gia công biến dạng. Trong đó khuyết tật mạng quan trọng nhất là lệch mạng, chúng góp phần tích trữ từ 80 đến 90% số năng lượng tích trữ sau biến dạng dẻo. Trong kim loại ở trạng thái ủ (trạng thái cân bằng) mật độ lệch khoảng 9 Luan van 108cm-2, sau biến dạng dẻo lớn mật độ lệch có thể tăng lên tới 1012 (cm-2 )hoặc hơn nữa.
Mật độ lệch phân bố không đều trong tinh thể. Cách phân bố này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện biến dạng. Ví dụ, biến dạng dẻo tiến hành ở nhiệt độ tương đối thấp do hoạt tính của lệch thấp, lệch phân bố tương đối phân tán, khi biến dạng ở nhiệt độ cao hơn do hoạt tính của lệch lớn, một số lượng lớn các lệch sẽ cụm lại thành búi và các búi liên kết với nhau thành các "hàng rào" chia cắt hạt tinh thể thành nhiều khu vực có mật độ lệch thấp, đó là những cấu trúc ô. Giữa các cấu trúc ô định phương không giống nhau, chúng thực chất là những siêu hạt.
Nhiệt độ càng cao, các búi lệch càng thu gọn, các bức “tường rào" càng rõ nét và các siêu hạt hình thành càng rõ hơn. Mật độ khuyết tật mạng tăng làm cho mật độ kim loại sau biến dạng dẻo giảm, nội ứng suất (ứng suất dư) tăng. Ứng suất dư có tác dụng hoá bền vật liệu, song cũng nhiều khi gây tác hại như tạo ra các vết nứt giòn trong mối hàn, thúc đẩy sự ăn mòn ứng suất và làm thay đổi một số tính chất vật lý (điện, từ tính) của vật liệu v. c) Sự thay đổi định hướng của các hạt Trong quá trình biến dạng dẻo theo một định hướng không đổi, các hạt vừa biến dạng trượt vừa quay theo xu hướng làm cho một số mặt và phương tinh thể sẽ sắp xếp theo một vị trí nhất định so với ngoại lực.
Trong trường hợp điều kiện quay thuận lợi, ví dụ, phương thức biến dạng cán hoặc kéo theo một phương không đổi, tổ chức kim loại một pha ít tạp chất, khi đạt độ biến dạng lớn nhất định các hạt đều có một định hướng ưu tiên theo các mặt và phương tinh thể xác định tạo nên textua biến dạng.2 Biến đổi tính chất kim loại sau biến dạng dẻo Ảnh hưởng của biến dạng dẻo đối với tính chất của kim loại có liên quan chặt chẽ với những biến đổi về tổ chức tế vi và khuyết tật mạng kể trên, nó thể hiện trên ba mặt là: gia công biến cứng (tức hoá bền kim loại do biến dạng dẻo), tính dị hướng (tính chất kim loại khác nhau trên các hướng) và một số biến đổi về tính chất vật lý, hoá học của kim loại. 10 Luan van a) Hiện tượng biến cứng nguội Là hiện tượng sau biến dạng dẻo nguội độ bền, độ cứng tăng đồng thời độ dẻo, dai giảm ( hình 2. Giới hạn chảy tăng nhiều hơn so với giới hạn bền, độ biến dạng càng lớn tỷ số Re/Rm (tương đương ch/b) càng tiến tới 1. Cụ thể, giới hạn chảy có thể tăng 3 đến 7 lần, còn giới hạn bền kéo chỉ tăng 1,5 đến 3 lần.4: Ảnh hưởng của biến dạng dẻo đến cơ tính & tính chất khác của kim loại [1] Nguyên nhân gây nên biến cứng nguội là sự sản sinh siêu hạt, lệch mạng và các khuyết tật mạng khác, trong đó sự tăng mật độ lệch đóng vai trò quyết định.
Điều đó thể hiện ở hàm quan hệ giữa ứng suất chảy và mật độ lệch như sau: = 0 + aGb ρ trong đó: 0 - ứng suất chảy ban đầu (trước biến dạng dẻo); G - mô đun đàn hồi trượt; b - véctơ Burgers a - hệ số (giá trị lý thuyết bằng 0,3).