CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN VỀ BTXM TRONG XÂY DỰNG MẶT ĐƯỜNG Ô TÔ 1. Khái niệm về BTXM [8],[17]. Bê tông xi măng (BTXM) là một loại đá nhân tạo nhận được sau khi làm rắn chắc hỗn hợp bê tông. Hỗn hợp bê tông (bê tông tươi) có thành phần được lựa chọn hợp lý gồm: xi măng, nước, cốt liệu (cát, sỏi hay đá dăm) và phụ gia.
Khi rắn chắc hồ xi măng dính kết hỗn hợp cốt liệu thành một khối đá và được gọi là bê tông. Bê tông là vật liệu chính được sử dụng để xây dựng các công trình xây dựng, các công trình giao thông, thủy lợi. Trong bê tông cốt liệu ngoài vai trò làm giảm giá thành cho bê tông còn là bộ khung chịu lực để tăng cường các đặc tính cơ học cho bê tông. Hỗn hợp xi măng và nước bao bọc xung quanh hạt cốt liệu đóng vai trò là chất dính kết, đồng thời lấp đầy các khoảng trống giữa các cốt liệu.
Bê tông có cốt thép gọi là bê tông cốt thép. Khi sử dụng cốt thép dự ứng lực trong bê tông thì gọi là bê tông dự ứng lực. Cốt thép dự ứng lực cải thiện trạng thái ứng suất trong kết cấu bê tông. Trong BTXM cốt liệu thường chiếm 70 -75%, còn xi măng và các thành phần khác chiếm 10 – 15% thể tích của khối bê tông đá đóng rắn.
Yêu cầu cơ bản của bê tông là phải đạt được độ dẻo để dễ thi công; đạt cường độ ở tuổi quy định hoặc đạt các yêu cầu khác như độ chống thấm, ổn định với môi trường và độ tin cậy khi khai thác, giá thành không quá đắt. Hỗn hợp các nguyên liệu kể trên (Xi măng, nước, cốt liệu, phụ gia) mới nhào trộn để đồng nhất nhưng chưa rắn chắc gọi là hỗn hợp bê tông hay bê tông tươi. Trong bê tông, cốt liệu đóng vai trò là bộ khung chịu lực, hồ xi măng (xi măng và nước) bao bọc xung quanh các hạt cốt liệu đóng vai trò là chất bôi trơn đồng thời lấp đầy các khoảng trống giữa các hạt cốt liệu. Trong quá trình 5 đông kết và phát triển cường độ của hồ xi măng, nó sẽ gắn kết các hạt cốt liệu thành một khối tương đối đồng nhất gọi là BTXM.
Những chất phụ gia đưa vào hỗn hợp BTXM nhằm mục đích cải thiện một số tính chất của hỗn hợp BTXM như tăng tính lưu động của hỗn hợp BTXM, điều chỉnh thời gian ninh kết, tăng cường độ, nâng cao tính chống thấm…. Về sức bền vật lý, BTXM chịu lực nén khá tốt nhưng khả năng chịu lực kéo không tốt. Vì vậy, trong xây dựng các công trình, các vật liệu chịu lực kéo tốt (ví dụ thép) được sắp xếp để đưa vào trong lòng khối BTXM, đóng vai trò là bộ khung chịu lực nhằm cải thiện khả năng chịu kéo của BTXM. Loại BTXM có phần lõi thép này được gọi là BTXM cốt thép.
Các tác động khác như đóng băng hay nước ngấm vào trong BTXM cũng có thể gây ra hư hại cho loại vật liệu này. BTXM được sử dụng rộng rãi trong xây dựng các công trình kiến trúc, móng, gạch không nung hay gạch block, mặt lát của vỉa hè, cầu và cầu vượt, đường lộ, đường băng, các cấu trúc trong bãi đỗ xe, đập, hồ chứa/bể chứa nước, ống cống, chân cột cho các cổng, hàng rào, cột điện và thậm chí là thuyền. Một số công trình kiến trúc làm bằng bê tông nổi tiếng có thể kể đến như Burj Khalifa, đập Hoover, kênh đào Panama và Đền Pantheon.Điều kiện tự nhiên của khu vực tỉnh Đồng Nai [22] 1. Địa hình Tỉnh Đồng Nai có địa hình đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam.
Có thể phân biệt hai dạng địa hình chính như sau: Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng chính: 6 - Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5 m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km. Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại. - Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ. Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng.
Dạng địa đồi lượn sóng: - Độ cao từ 20 đến 200m. Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80. Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ. Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám.
Dạng địa hình núi thấp: - Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 ÷ 800m. Địa hình này phân bố chủ yếu ở phía bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc. Tất cả các núi này đều có độ cao (20 ÷ 300), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét. Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc < 80, 92% đất có độ dốc <150, các đất có độ dốc >150 chiếm khoảng 8%.
Trong đó: Đất phù sa, đất sét và đất cát có địa hình bằng phẳng , nhiều nơi trũng thấp ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc < 80 , đất đỏ hầu hết < 150. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Khu vực thành phố Biên Hòa Căn cứ kết quả tra cứu hồ sơ địa chất của cầu Đồng Nai mới và Hóa An 2 cho thấy cấu tạo địa tầng từ trên xuống bao gồm các lớp sau: - Lớp số 1 (là lớp đất hai bên bờ sông): Sét pha màu xám xanh, trạng thái dẻo chiều dài từ 0.7m ÷ 2m, trị số SPT N = 13 ÷ 17.
- Lớp số 2: cát hạt thô đến vừa màu xám đen, trạng thái chặt vừa, chiều dày thay đổi từ 1. Trị số SPT N = 8 ÷ 25, đây là lớp phân bố khá rộng. - Lớp số 3: Sét pha cát màu xám trắng, xám vàng, trạng thái dẻo mềm, chiều dày thay đổi từ 0. Trị số SPT N = 4 ÷ 5.
- Lớp số 4: Sét pha cát màu xám xanh trạng thái dẻo chảy đến nửa cứng, chiều dày thay đổi từ 2 ÷ 3m. Trị số SPT N = 2 ÷ 9, đây là lớp phân bố dọc theo hai bên bờ sông. - Lớp số 5: Cuội màu nâu xám, kết cấu chặt, chiề dày thay đổi từ 0. - Lớp số 6: Đá granit poochia, màu xám xanh phong hóa nứt nẻ dày > 10m, càng xuống sâu độ cứng đá càng tăng.
Khu vực ngoài thành phố Biên Hòa về đến cửa Biển (điển hình là khu vực huyện Nhơn Trạch) [22] Theo tài liệu khoan và thí nghiệm địa chất cầu vượt sông Đồng Nai nối Huyện Nhơn Trạch và Quận 9 cho thấy cấu tạo địa tầng từ trên xuống bao gồm những lớp sau: 8 - Lớp 1: Lớp bùn sét lẫn hữu cơ, màu xám đen, đôi chỗ còn lẫn than bùn, đây là lớp phân bố rộng trên khu vực chiều dày lớp từ 5m đến 24m (càng về hướng Cần Giờ, chiều dày càng tăng), lớp này là lớp đất yếu. - Lớp 2: Sét pha cát màu xám vàng, trạng thái dẻo cứng, chiều dày từ 5 ÷ 8m, Lớp này phân bố rộng trên khu vực, chỉ số SPT N=12, sức chịu tải quy ước R = 2,2 KG/cm2. - Lớp 3: Lớp cát mịn, màu xám vàng kết cấu chặt vừa, chiều dày lớp trung bình 8m, là lớp đất phân bố rộng trên khu vực. Chỉ số SPT N=24, sức chịu tải quy ước R = 2,5 KG/cm2.
- Lớp 4: Lớp sét pha cát lẫn sỏi sạn màu xám vàng đến xám đen chiều dày trung bình 3m. Chỉ số SPT N=21, sức chịu tải quy ước R = 3,5 KG/cm2. - Lớp 5: Lớp cát hạt vừa màu vàng đến xám trắng, kết cấu chặt vừa, đây là lớp phân bố rộng, chiều dày lớp này phân bố từ 9 ÷ 14m, chỉ số SPT N=26, sức chịu tải quy ước R = 3 KG/cm2. - Lớp 6: Lớp sét màu xám xanh lẫn sạn trạng thái dẻo cứng, chiều dày lớp trung bình 4m, chỉ số SPT N=30, sức chịu tải quy ước R = 1,2 KG/cm2.
- Lớp 7: Cát pha sét màu xám trắng, trạng thái dẻo, dày trung bình 5m, chỉ số SPT N=30, sức chịu tải quy ước R = 1,5 KG/cm2. - Lớp 8: Bột kết phong hóa không đồng đều dày trên 3m là lớp phân bố trên diện rộng của khu vực chỉ số SPT N=46, sức chịu tải quy ước R =5 KG/cm2. Như vậy, khu vực thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có địa chất tương đối đơn giản, cường độ các lớp đất đá tăng dần theo chiều sâu và đến độ sâu 15 ÷ 20m, gặp lớp đá gốc cứng chắc có cường độ cao, thuận tiện cho công tác xây dựng công trình. Thủy văn Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, có hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Các yếu tố khí hậu thời tiết cơ bản thuận lợi cho sản xuất và đời sống nhân dân trong tỉnh. Nhiệt độ không khí cao đều trong năm, trung bình 25. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 (trung bình 270C, cao nhất tuyệt đối 34-350C).
Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 (trung bình 24 đến 25.70C, thấp nhất tuyệt đối là 19 ÷ 200C, độ ẩm không khí trung bình 85%, mùa khô 75 – 80%. Lượng mưa trung bình hằng năm 2.174mm, trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa chiếm tới 90% cả năm. Lượng bốc hơi trung bình 1. Lượng bốc hơi tập trung cao vào các tháng mùa khô.
Trong năm có 2 hướng gió chính là: Gió mùa Đông Bắc trong mùa khô và gió Tây Nam trong mùa mưa, tốc độ gió trung bình là 2 ÷ 3m/giây. Đồng Nai không bị ảnh hưởng bởi bão lũ nghiêm trọng, không có gió bão lớn.Tình hình nghiên cứu và ứng dụng BTXM trên thế giới và ở Việt Nam 1. Phát triển mặt đường BTXM trên thế giới 1.