CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Cách đây khoảng hai mươi năm, trong khi các hệ tuyến tính đã được nghiên cứu và điều khiển bằng rất nhiều các phương pháp có thể nói là đã đạt tới mức hoàn hảo thì việc tiếp cận các hệ phi tuyến lại trở nên rất khó khăn. Mặc dù các nhà khoa học đã có rất nhiều nỗ lực để nghiên cứu và đưa ra các phương pháp khác nhau, song các phương pháp này cũng chỉ áp dụng được cho một lớp các hệ phi tuyến đặc biệt có số bậc thấp. Do đó việc tìm ra các phương pháp để phân tích, điều khiển cho lớp rộng các hệ phi tuyến có bậc cao vẫn còn là vấn đề được quan tâm nghiên cứu cho tới nay.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ máy tính số thì đã xuất hiện nhiều phương pháp tỏ ra khá hiệu quả trong việc tiếp cận với lớp rộng các hệ phi tuyến. Có thể kể ra đây ba trong số các phương pháp mới và có hiệu quả nổi trội nhất là: - Phương pháp sử dụng hệ suy diễn mờ. - Phương pháp sử dụng mạng Nơron. - Phương pháp sử dụng mạng Nơron-mờ.
Các phương pháp này có đặc điểm chung là có khả năng làm việc giống tư duy của con người, đây chính là ưu điểm khiến cho chúng có thể dễ dàng được áp dụng cho một lớp rộng các hệ phi tuyến có số bậc cao. Nếu như phương pháp sử dụng hệ suy diễn mờ nổi bật với ưu điểm là có khả năng sử dụng các kiến thức kinh nghiệm, các kiến thức của chuyên gia dưới dạng các phát biểu ngôn ngữ. Phương pháp sử dụng mạng nơron nổi trội với khả năng tự học qua các mẫu học, khả năng xấp xỉ với độ chính xác bất kỳ, thì phương pháp sử dụng mạng nơron 8 mờ lại là sự kết hợp của hai phương pháp và có được các ưu điểm kể trên của hai phương pháp. Nhận dạng hệ thống chính là quá trình tìm ra mô hình toán học có khả năng mô tả hệ thống.
Như vậy nhận dạng hệ thống có một vai trò hết sức quan trọng trong các quá trình điều khiển, dự đoán và phân tích hệ thống. Trong khi nhận dạng hệ phi tuyến sử dụng các phương pháp kinh điển thường tỏ ra rất phức tạp và chỉ có thể áp dụng được cho các hệ có số bậc phi tuyến thấp thì quá trình nhận dạng sử dụng các phương pháp hiện đại kể trên lại tỏ ra rất đơn giản đặc biệt là phương pháp sử dụng mạng nơron-mờ. Như chúng ta thấy,các hệ thống thực tế trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội xét một cách chính xác đều là các hệ phi tuyến do vậy bài toán nhận dạng các hệ phi tuyến có một ý nghĩa hết sức to lớn và thiết thực. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu bài toán nhận dạng hệ phi tuyến bằng công cụ hiện đại là mạng nơron mờ. Xây dựng một mạng nơron-mờ có khả năng nhận dạng hệ phi tuyến bất kỳ. Ứng dụng mạng nơron-mờ để nhận dạng một đối tượng cụ thể.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Luận văn đưa ra một phương pháp mới dễ dàng và hiệu quả để nhận dạng hệ phi tuyến phục vụ cho nhiều mục đích như: điều khiển, phân tích, mô phỏng và dự đoán hệ thống. Do tính đơn giản, hiệu quả nên mạng nơron-mờ do luận văn nghiên cứu và xây dựng có thể dễ dàng được sử dụng để nhận dạng các hệ phi tuyến trong thực tế. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước. Bài báo đầu tiên về nơron mờ là của Ed Lee phát hành năm 1975. Sau đó có rất ít các hoạt động nghiên cứu về nơron mờ. Cho đến tận năm 1988 H.
Hayashi đã phát minh ra những hệ thống trong đó kết hợp giữa logic mờ và mạng nơron để thu được hiệu quả cao hơn. Phát minh này của H. Hayashi mở ra một cánh cửa cho sự phát triển đa dạng của các hệ thống nơron mờ. Ngày nay có rất nhiều các tài liệu cũng như có một phạm vi ứng dụng 10 rất rộng rãi nơron mờ đặc biệt là trong lĩnh vực sản phẩm tiêu dùng.
Nảy sinh một câu hỏi là tại sao các hệ thống nơron mờ lại được quan tâm đến như vậy? và hệ nơron mờ có thể làm được những gì mà các hệ thống khác không làm được. Các hệ thống nơron mờ có thể được xem là sự kết hợp giữa tính toán nơron và logic mờ, thừa hưởng từ tính toán nơron nội dung và công nghệ liên quan tới việc học và sự xấp xỉ, thừa hưởng từ logic mờ nội dung và công nghệ liên quan tới phân tích, các biến ngôn ngữ, các luật suy luận mờ “nếu-thì”, các kiến thức chuyên gia, các tri thức kinh nghiệm Một dạng quan trọng của hệ nơron mờ được khơi nguồn bởi Arabshahi với một thuật toán tựa nơron như là thuật toán lan truyền ngược và cải thiện khả năng của nó bằng việc đưa thêm vào các luật mờ “nếu-thì” để điều khiển thích nghi các thông số. Những gì cần được lưu ý đó là tư tưởng cơ bản của cách tiếp cận này có thể được áp dụng cho bất kỳ một loại thuật toán nào trong đó sự hiểu biết và kinh nghiệm của con người giữ một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn giá trị các thông số và sự điều khiển các biến của hệ thống như là các hàm. Trong những ứng dụng như vậy thì các luật mờ “nếu-thì” được thêm vào như là ngôn ngữ diễn tả sự hiểu biết và kinh nghiệm của con người.
Một hướng quan trọng khác nổi lên đầu những năm 90 của thế kỷ trước là việc xem hệ suy luận mờ Takagi-Sugeno như một mạng nơron nhiều lớp. Việc điều chỉnh thông số trong những hệ thống này được thực hiện thông qua việc sử dụng kỹ thuật gradient. Một ví dụ điển hình là hệ ANFIS được phát triển bởi Roger Jang. Một hướng quan trọng khác nữa được thực hiện bởi G.
Bortolan liên quan tới mờ hoá nhiều lớp, mạng nơron truyền thẳng, kết hợp trong một mạng nơron mờ. 11 Như là thành phần chính trong tính toán mềm, mạng nơron mờ là một hệ lai thông minh sở hữu khả năng điều chỉnh thích nghi và xử lý thông tin thông minh. Vào giữa những năm 1970, Lee S. T đề nghị các nơron mờ và một số kết quả có hệ thống về mạng nơron mờ được phát triển bởi sự mờ hoá các nơron McCulloch-Pitts khi mà mạng nơron không còn được quan tâm nhiều nữa do đó các công trình này đã không được chú ý.
Cho đến tận năm 1987 khi Kosko B đã phát triển một bộ nhớ kết hợp mờ FAM (fuzzy associative memory) để giải bài toán thông tin thông minh bằng cách đưa các toán tử mờ vào mạng nhớ. Đầu những năm 1980 các nghiên cứu về mạng nơron phát triển một cách đột biến, khởi nguồn từ công trình của Hopfield J. Mạng nơron mờ cũng thu hút được sự chú ý của nhiều học giả. Nhiều nội dung mới như cấu trúc mới, các luật huấn luyện và các mô hình về mạng nơron mờ đã được phát triển.
Trong thực tế mạng nơron mờ đã chứng tỏ hiệu quả trong nhiều lĩnh vực ứng dụng ví dụ như mô hình hoá hệ thống, phân tích độ tin cậy của hệ thống, nhận dạng mẫu, điều khiển gián tiếp, mô phỏng, dự đoán… Dựa trên quá trình mờ hoá của mạng nơron mờ đã được phát triển từ cuối những năm 1980, có thể phân chia tất cả các mô hình mạng nơron mờ ra làm ba loại như sau: - Dựa trên các toán tử mờ: + Mạng nơron truyền thẳng. + Mạng nơron hồi tiếp. - Các mạng nơron được mờ hoá: + Mạng nơron mờ chính tắc. + Mạng nơron mờ cải tiến.
- Các mạng suy luận mờ: 12 + Kiểu Mamdani. + Kiểu Takagi-Sugeno. + Kiểu Tổng quát hoá. o Danh mục các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến luận văn.
Walker: A first course in fuzzy and neural control. Công trình đã đưa ra các khái niệm cơ bản về logic mờ, mạng nơron, mạng nơron mờ. [2] Jairo Espinosa, Joos Vandewalle and Vincent Wertz: Fuzzy Logic, Identification and Predictive Control. Công trình đưa ra các khái niệm và phương pháp cơ bản để xây dựng một hệ suy luận mờ để ứng dụng trong nhận dạng và điều khiển dự báo.
Philip Chen, Han-Pang Huang: Fuzzy Neural, Intelligent Systems. Công trình đưa ra khái niệm mạng nơron mờ được xây dựng từ mạng nơron bằng cách thêm vào các toán tử mờ. [4] Puyin Liu, Hongxing Li: Fuzzy Neural Network Theory and Application.Cheung: Fuzzy Engineering Expert Systems with Neural Applications.Demuth, Mark Beale: Neural Network Design 1. Tình hình nghiên cứu trong nước.
Hoà cùng với sự phát triển chung của nền khoa học công nghệ thế giới, các nhà khoa học trong nước cũng không ngừng nghiên cứu và phát triển các 13 phương pháp mới và đã đạt được những thành công, đặc biệt là các phương pháp sử dụng mạng nơron, logic mờ và mạng nơron mờ. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu có liên quan tới luận văn: - “Điều khiển logic và ứng dụng” - Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật 2000 của PGS,TS Nguyễn Trọng Thuần đã đề cập những khái niệm và kiến thức rất cơ bản về logic mờ và hệ suy diễn mờ. Công trình cũng đưa ra một số ứng dụng rất hữu ích của hệ suy diễn mờ như: Điều khiển máy điều hoà không khí, điều khiển máy giặt, điều khiển tốc độ động cơ một chiều, điều khiển vị trí, điều khiển lò nung clinker trong sản xuất xi măng… - “Lý thuyết điều khiển mờ”-Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật 2004 của đồng tác giả Phan Xuân Minh, Nguyễn Doãn Phước đề cập và đưa các khái niệm cơ bản về mạng nơron và lôgic mờ. - “Hệ mờ mạng nơron và ứng dụng”-Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật 2006 do Bùi Công Cường, Nguyễn Doãn Phước chủ biên nêu lên các ứng dụng của logic mờ và mạng nơron trong các lĩnh vực khác nhau như điều khiển, toán học, công nghệ thông tin, kinh tế, ngân hàng… - “Hệ thống chuẩn đoán lỗi ứng dụng mạng nơron mờ” –VICA 5 của PGS,TS Nguyễn Công Hiền.
- “Nhận dạng hệ phi tuyến dùng logic mờ”-VICA 5 của Huỳnh Thái Hoàng, Nguyễn Thị Phương Hà, Nguyễn Thúc Loan. - “Ứng dụng bộ đièu khiển nơron-mờ điều khiển thích nghi vị trí động cơ một chiều”- VICA 6 của Phạm Đức Dục, Nguyễn Công Hiền. - “Nghiên Cứu ứng dụng mạng nơron-mờ điều khiển thích nghi rôbốt hai khâu”-VICA 6 của Phạm Đức Dục, Nguyễn Công Hiền.