Chương 1 TONG QUAN 1. Tống quan về cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) 1. Đặc điểm sinh học và giá trị của cá tra 1. Đặc điểm sinh học và môi trường sống Vi trí phân loại cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) như sau: Giới: Animalia (Động vật) Ngành: Chrodata (Động vật có dây sống) Lớp: Actinopterygii (Cá vây tia) Bộ: Siluriformes (Ca da tron) Ho: Pangasiidae (Cá tra) Chi: Pangasianodon Loai: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878) Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) có nguồn gốc từ Campuchia, Lao, Thái Lan và Việt Nam (Nguyễn Văn Thường va ctv, 2008) và phân bố tự nhiên ở hai lưu vực sông Mekong và sông Chao Phraya.
Loài này có cơ thé dep theo chiều hông, vi lưng ngắn có một đến hai gai cứng, vi hậu môn dài, gai vi ngực cứng và có hai đôi râu hàm (một đôi râu mép và một đôi râu cằm). Thân màu xám, hơi có màu xanh trên lưng, hai bên hông và bụng nhạt (Nguyễn Bạch Loan, 1998). Đặc điểm dinh dưỡng Cá tra có miệng rộng, răng sắc nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái, gai trên cung mang thưa và ngắn. Dạ dày hình chữ U, ruột ngắn và không gấp khúc.
Trong tự nhiên, cá tra là loài ăn tạp, tuy nhiên thức ăn của chúng thiên về động vật như tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá. Ngoài ra, loài này ăn được ca mun bã hữu cơ, rê cây thủy sinh, rau quả. Cá tra nuôi trong ao sử dụng được các loại thức ăn khác nhau như thức ăn viên, cám, tam, rau muống. Thức ăn có nguồn gốc động vật sẽ giúp cá lớn nhanh (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Đặc điểm sinh trưởng Cá tra có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều chất hữu cơ, oxy hòa tan thấp, nuôi được với mật độ cao và có thể sống được ở vùng nước lợ (nồng độ muối 7 - 10%o); cá tra có thé chịu đựng được nước phèn với pH > 5, dễ chết ở nhiệt độ đưới 15°C nhưng chịu được nhiệt độ cao lên tới 39°C (Phạm Văn Khánh, 1996). Cá tra có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh cả về chiều dài và khối lượng. Khi được 9 ngày tuôi khối lượng đã tăng gấp 10 lần, chiều dài tăng 1,85 lần. Sau một năm, ca đạt trọng lượng từ 0,7 - 1,5 kg, từ 3 - 4 tuổi đạt trọng lượng là 3 - 5 kg (Phạm Văn Khánh, 1996).
Khi cá đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ tích lũy mỡ nên cần có chế độ nuôi dưỡng thích hop dé phát dục tốt. Đặc điểm sinh sản Cá tra không sinh sản trong ao nuôi và có tập tính di cư sinh sản trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp. Trong tự nhiên, cá tra thành thục được tìm thấy trên sông ở địa phận của Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, cá tra không có bãi sinh sản tự nhiên mà được sinh sản ở Campuchia sau đó cá bột theo dòng nước về Việt Nam (Phạm Văn Khánh, 1996).
Tuổi thành thục của cá tra đực ở năm thứ hai và cá tra cái ở năm thứ ba. Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ, nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực và cá cái. Ở thời kì thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào va ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào. Mùa vụ sinh sản của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 7 âm lịch.
Trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 - 3,0 kg (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Giá trị dinh dưỡng của cá tra Cá tra là loài có giá trị dinh dưỡng cao vì thịt cá chứa nhiều chất đạm, một số loại axit béo không bão hòa (axit eicosapentaenoic - EPA và axit docosahexaenoic - DHA). Theo Ho và ctv (2009), phi lê cá tra là một nguồn tiềm năng của axit béo omega - 3 và thức ăn ít chất béo, hàm lượng chất béo thô trong phi lê cá tra là 2,55g/100g, EPA là 0,76 mg/100g và DHA là 10 mg/100g (trọng lượng ướt). Tình hình nuôi và chất lượng giống cá tra tại Việt Nam Ở Việt Nam, cá tra đã được nuôi và phát trién chủ yêu ở đồng bằng sông Cửu Long, tổng diện tích thả nuôi lớn nhất ước đạt 5.
Trong đó, Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp là những vùng nuôi lớn nhất. Cả nước có 103 cơ sở sản xuất giống cá tra, tập trung tại tỉnh An Giang, Đồng Tháp và có hơn 1.900 cơ sở ương dưỡng giống cá tra (Tổng cục Thủy sản, 2022). Việc phát triển sản xuất giống thủy sản và chuyên giao công nghệ trong sản xuất, ương dưỡng giống và nuôi trồng thủy sản là mục tiêu hàng đầu trong chương trình Quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2020 - 2030 (Tổng cục Thủy san, 2022). Tuy nhiên, số lượng cơ sở ương dưỡng giống thủy sản chưa được kiểm tra và cấp giây chứng nhận còn thấp; cá mắc nhiều bệnh.
Tỉ lệ sống khi ương dưỡng từ giai đoạn cá bột lên cá giống còn thấp (khoảng 15%), giá thành sản xuất cao, cá bố mẹ chưa rõ nguồn gốc, chất lượng kém,. Tổng quan chương trình chọn giống thủy sản 1. Chương trình chọn giống thủy sản trên thế giới Có hơn 101 chương trình chọn giống thủy sản từ năm 1983, trong đó nhiều nhất là chọn lọc cá rô phi, tiếp theo là cá hồi Đại Tây Dương, cá hồi vân và cá rohu (Neira và ctv, 2010). Các tính trạng mục tiêu phố biến trong chọn giống ở thủy sản là tăng trưởng, kháng bệnh, tuổi thành thục, hệ số chuyên đổi thức ăn, tỉ lệ phi lê, mùi vị, số lượng trứng và kích thước trứng (Gjedrem và Baranski, 2009).
Một số chương trình chọn giống đã được triển khai trên thế giới: chương trình chọn giống cá rô phi ở Philippines (1993), Malaysia (2005) và Hà Lan (2005); cá nheo Mĩ (1995); cá rohu ở An Độ (1996), Bangladesh (2012) và An Độ (2015); cá mè vinh ở Bangladesh (2002); tôm thẻ chân trắng ở Mĩ (2002) và Columbia (2006); cá chép (2003); cá hồi Coho ở Mĩ (2004); cá hồi vân ở Phần Lan (2002) và Đan Mạch (2002); cá hồi Đại Tây Dương và cá hồi vân ở Na Uy (2005); cá tuyết ở Na Uy (2006), Malawi (2006) và Bangladesh (2013); hàu Thái Bình Dương ở Úc (2007); cá chém ở Châu Âu (2009). Trong giai đoạn 2002 - 2010, trên thế giới sử dụng con giống đã qua chọn lọc tăng từ 5,0% đến 8,2%. Tuy nhiên, nghề nuôi thủy sản phần lớn (khoảng hơn 88%) vẫn dựa vào con giống tự nhiên hoặc con giống chưa qua chon loc (Gjedrem, 2012). Mặc dù các tính trạng mục tiêu trên đối tượng thủy sản tương tự với vật nuôi khác nhưng số lượng các chương trình chọn giống vẫn còn khiêm tốn.
Nguyên nhân là do sự khó khăn về mặt kĩ thuật và điều kiện dé tiến hành. Đến nay, nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ giúp số lượng và chất lượng của các chương trình chọn giống được nâng lên rõ rệt. Chương trình chọn giống thủy sản ở Việt Nam Trong những năm 1960, công trình nghiên cứu nồi bật về di truyền trên cá là nghiên cứu về biến dị hình thái của các nhóm cá chép khác nhau ở miền Bắc Việt Nam. Tiếp đến những năm 1970, nghiên cứu về lai giữa các dòng cá chép của Nguyễn Mạnh Tưởng và Trần Mai Thiên (1979).
Sau đó, vào những năm 1990, nghiên cứu về di truyền phát triển rõ nét hơn, trong các dự án nghiên cứu trong và ngoài nước như: DEGITA, GIFT do ICLARM thực hiện, toàn cai cá mè vinh, cá rô phi toàn đực và siêu đực YY do DFID tài trợ, chọn lọc gia đình cá rô phi trong dự án NORAD. Giai đoạn năm 2000 - 2010, một số chương trình chọn giống đã được thực hiện và cho kết quả khả quan: (i) chương trình chọn giống cá rô phi Oreochromis niloticus (dòng GIFT) nhằm nâng cao sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh theo phương pháp chọn lọc gia đình đã chọn được dòng rô phi có sức sinh trưởng tăng 16,6% so với vật liệu chọn giống ban đầu (Nguyễn Công Dân và ctv, 2000); (ii) Nghiên cứu chọn giống cá chép ở đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Văn Kiểm (2005), thực hiện thí nghiệm chọn giống trên 3 loại cá chép - vàng, trắng và hung. Qua hai thế hệ chọn giống, hệ số di truyền thực tế tính được là 0,22; 0,22 - 0,23 và 0,18 - 0,20 tương ứng cho cá chép vàng, trắng và hung, hiệu quả của chọn lọc về tăng trưởng nhanh hơn thế hệ trước tương ứng từ 7,0 - 7,2%; 4,3 - 6,0% và 4,2- 4,3%. Chương trình chọn giống cá tra của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II Từ năm 2001 - 2012, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã tiến hành chương trình chọn giống cá tra theo tính trạng tăng trưởng thông qua các đề tài nghiên cứu cấp Bộ và đề tài thuộc Chương trình Công nghệ Sinh học Thủy sản.
Kết quả đã chọn lọc được 3 quần đàn chọn giống theo tính trạng tăng trưởng là quần đàn G - 2001, G - 2002 và G - 2003 (đặt tên theo năm thành lập quần đàn). Hệ số di truyền thực tế (h’) của tính trạng tăng trưởng của các quan đàn ở mức cao, dao động từ 0,24 đến 0,38 tủy theo quan dan va thế hệ chọn giống. Tiếp nối là đề tài thuộc Chương trình Công nghệ Sinh học Nông nghiệp Thủy sản “Ứng dụng di truyền phân tử và di truyền số lượng chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng cá tra” (2013 - 2016) và tập trung vào tính trạng tăng trưởng. Kết quả đã chọn lọc được quan thê chọn giống G3 - cộng gộp có hệ số di truyền ước tính tính trạng trọng lượng thu hoạch cao (0,51), hiệu quả chọn lọc thực hiện so với (i) đàn cá đối chứng của chương trình chọn giống đạt trung bình 7,0%/thé hệ (tính theo EBV) và 10,6%/thé hệ (tính theo LSM) và (ii) cao hon so với đàn có nguồn gốc từ tự nhiên là 20,4%.
Đến nay, chương trình chọn giống đã chọn lọc được thế hệ G4 - tăng trưởng thông qua đề tài nghiên cứu cấp Bộ, thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2022 (đã phân tích và chọn lọc G4 trong năm 2020). Hệ số di truyền thực tế của tính trạng tăng trưởng ở G4 đạt 0,49 + 0,14, hiệu quả chọn lọc thực tế của thế hệ G4 so với đàn tự nhiên là 31,2% và đạt cao hơn 11,3% so với thế hệ G3. Dựa trên nhóm cá chọn giống theo tính trạng tăng trưởng đã được thực hiện san dé làm nguồn vật liệu ban đầu và kết hợp với ba nhóm cá tự nhiên có nguồn gốc từ Campuchia.