Chương 1 luận án sẽ trình bày tổng quan về ảnh y khoa và phương pháp chụp ảnh y khoa dựa trên đó để có phương pháp tổng quát xử lý ảnh y khoa. Từ kiến thức tổng quát sẽ trình bày chi tiết về ảnh mạch vành và bệnh lý về ảnh mạch vành làm tiền đề từ đó giải quyết bài toán “Phân đoạn và phát hiện bất thường trên mạch vành” dựa trên dữ liệu cụ thể từ Đại học Chonnam Hàn Quốc cung cấp. Với những nội dung trình bày được công bố một bài báo ở tạp chí thuộc danh mục hội đồng chức danh nhà nước công nhận [CT4].1 Ảnh y khoa Ảnh y khoa là ảnh với các kỹ thuật và quy trình được sử dụng để tạo ra ảnh của cơ thể người (hoặc các bộ phận của cơ thể) cho các mục đích lâm sàng khác nhau như các tiến trình và chẩn đoán y khoa bao gồm nghiên cứu về giải phẫu và chức năng bình thường. Theo nghĩa rộng hơn, nó là một phần của ảnh sinh học và kết hợp X quang, nội soi, máy đo nhiệt, chụp ảnh y khoa và kính hiển vi.
Các kỹ thuật đo lường và ghi chép như điện não đồ (Electro Encephalo Graphy – EEG) và ghi não từ tính (Magneto Encephalo Graphy – MEG) không chỉ chủ yếu được thiết kế để tạo ra ảnh mà còn tạo ra dữ liệu khả dĩ được biểu diễn dưới dạng bản đồ, dạng này cũng có thể được xem như dạng ảnh y khoa. Trong tình huống lâm sàng, ảnh y khoa thường được xem như X quang hoặc “ảnh lâm sàng”. Nghiên cứu ứng dụng và diễn giải ảnh y khoa thường là bảo tồn X quang và chuyên ngành y khoa liên quan đến tình trạng bệnh lý hoặc lĩnh vực khoa học y tế (khoa học thần kinh, tim mạch, tâm thần học, tâm lý học) đang được nghiên cứu. Nhiều kỹ thuật được phát triển cho ảnh y khoa cũng có các ứng dụng khoa học và công nghiệp.
Mặc dù toán học được sử dụng một cách tổng quát để xử lý ảnh, nhưng lại không có tầm ảnh hưởng nhiều trong lãnh vực y sinh học cho đến khi phát triển kỹ thuật chụp cắt lớp (Computed Tomography – CT) cho X-quang (dẫn đến chụp cắt lớp có sự hỗ trợ của máy tính hoặc CAT) và chụp cắt lớp phát xạ đồng vị (dẫn đến chụp cắt lớp phát xạ Positron hoặc quét PET và chụp cắt lớp phát xạ Positron đơn lẻ hoặc quét SPECT), sau đó MRI 4 (Magnetic Resonance Imaging – chụp cộng hưởng từ) thông dụng nhất so với các phương pháp [1]. Bên cạnh tất cả các kỹ thuật đã được thiết lập tốt này, nhiều phương pháp đang được nghiên cứu cho các ứng dụng của siêu âm và điện não cũng như các kỹ thuật mới về ảnh quang học, chụp cắt lớp trở kháng và ảnh nguồn từ. Mặc dù các ảnh cuối cùng thu được từ nhiều kỹ thuật có những điểm tương đồng nhưng công nghệ được sử dụng và các thông số biểu thị trong ảnh rất khác nhau về đặc điểm cũng như tính hữu dụng trong y khoa, thậm chí các mô hình toán học và thống kê khác nhau đã được sử dụng. Một số kỹ thuật đã được phát triển để cho phép phần mềm quét CT, MRI và siêu âm tạo ra ảnh 3D cho bác sĩ.
Thông thường, khi quét CT và MRI tạo ra ảnh 2D trên phim, sau đó sẽ nhiều lần để tạo ra ảnh 3D từ một mô hình xử lý [2]. Ảnh y khoa được các nhà khoa học xem là một phần của ảnh sinh học, đã được phát triển từ thế kỷ 19. Tổng quan ngắn gọn về ảnh y khoa như sau [3]: • Năm 1895, Roentgen tình cờ phát hiện ra tia X. Chụp X quang thông thường là kỹ thuật ảnh y khoa phổ biến nhất từ trước đến nay trong ngành khoa học.
Từ năm 1896, các hạt nhân phóng xạ được dùng để trị liệu và nghiên cứu chất đánh dấu trao đổi chất hơn là ảnh, sau đó máy quét tuyến tính ảnh bằng tia g được phát minh. • Trong Thế chiến thứ 2 công nghệ Sonar được dùng và vào năm 1970 thì sóng siêu âm đã trở nên phổ biến rộng rãi trong y khoa. • Vào thế kỷ 20, kiến thức toán học cho việc tái tạo ảnh chụp cắt lớp đã được hiểu và phương pháp chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và tia X được dùng chụp cắt lớp (CT) đã được phát triển. Cộng hưởng từ hạt nhân đã được sử dụng để tạo ảnh trong chụp cộng hưởng từ (MRI).
5 • Trong thế kỷ 21 những loại tia X, MRI, siêu âm tiếp tục được phát triển, đặc biệt là ảnh đang được đưa vào với kính hiển vi cũng như cấu trúc sinh học vĩ mô (ảnh nhiệt, chụp cắt lớp trở kháng điện, kỹ thuật quét đầu dò, v. Ảnh y khoa là ảnh thu được sau khi tương tác của tất cả các dạng bức xạ với mô và thiết kế các hệ thống kỹ thuật để trích xuất thông tin liên quan đến lâm sàng, sau đó được biểu diễn dưới dạng ảnh. Ảnh y khoa bao gồm từ đơn giản nhất như chụp X-quang ngực đến các ảnh phức tạp hiển thị các hiện tượng theo thời gian như ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI). Những thập kỷ qua đã chứng kiến phát triển vượt bậc của một công nghệ mới, mạnh mẽ để phát hiện, lưu trữ, truyền, phân tích và hiển thị ảnh y khoa kỹ thuật số.
Công nghệ này đang giúp các nhà hóa sinh, nhà sinh học, nhà khoa học y tế và nhà vật lý học thu được các phép đo định lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác nhận giả thuyết khoa học và chẩn đoán y khoa chính xác. Trong tương lai, việc thu thập thông tin chức năng và trao đổi chất cùng với thông tin cấu trúc (ảnh) sẽ được tăng cường. Điều này có thể được thực hiện ở một mức độ nào đó với máy đánh dấu phóng xạ (ví dụ PET) và quang phổ cộng hưởng từ [4].2 Mô hình xử lý ảnh y khoa Việc phân tích và giải thích các ảnh y khoa đại diện cho hai trong số các nhiệm vụ phức tạp và tương ứng nhất; thường bao gồm nhiều bước xử lý. Tuy nhiên, không khó để khái quát quy trình này cho tất cả các phương thức xử lý ảnh y khoa, và mô hình xử lý ba cấp kết quả được minh họa trong hình 1.
Tạo ảnh là bước đầu tiên trong hệ thống. Một số phương thức tạo ảnh như trình bày ở trên, chẳng hạn như tia X, hoặc như phương thức tính toán phát xạ photon đơn sử dụng tái tạo ảnh như một kỹ thuật xử lý ảnh. Xử lý ảnh được thực hiện theo hai bước: bước xử lý cấp thấp và bước xử lý cấp cao. Các bước thực hiện như lọc, tăng cường ảnh và phân đoạn, trích xuất đặc trưng và phân loại, các bước xử lý trực tiếp trên các điểm ảnh 6 thô, để đưa ra chẩn đoán.
Các nhiệm vụ quan trọng nhất liên quan đến cấp độ xử lý này là phân loại tính năng, phát hiện khối u và nói chung là chẩn đoán một số bệnh.1 Mô hình cho hệ thống chẩn đoán bằng ảnh y khoa [5]. Các hoạt động xử lý ảnh cơ bản có thể được phân thành năm loại: • Tiền xử lý: Tiền xử lý giúp hình dung rõ hơn các đường viền đối tượng có độ phân giải thấp. Các kỹ thuật phổ biến nhất bao gồm đăng ký ảnh chuyển động, chuyển đổi ảnh, bộ lọc hoặc toán tử Laplace. • Lọc: Lọc bao gồm tăng cường, làm nét và phát hiện cạnh.
Các kỹ thuật tăng cường bao gồm các bộ lọc tuyến tính hoặc phi tuyến, cục bộ hoặc toàn cục, hoặc dựa trên wavelet. Kỹ thuật làm nét có thể bao gồm các bộ lọc nghịch đảo hoặc Weiner. Các kỹ thuật phát hiện cạnh bao gồm biến đổi Haar, toán tử cục bộ, dự đoán và/hoặc các phương pháp phân loại. • Phân đoạn: Phân đoạn có thể vừa dựa trên vùng vừa dựa trên đường cong.
Có nhiều loại thuật toán phân đoạn khác nhau bao gồm các thuật toán cổ điển dựa trên vùng, thuật toán phân cụm, và mô hình phát hiện đường thẳng và cung tròn. Một vấn đề quan trọng trong ảnh y khoa là liệu có thể thực hiện phân đoạn cho 7 nhiều lĩnh vực khác nhau bằng cách sử dụng các phương pháp tổng quát từ dưới lên hay không khi mà không sử dụng bất kỳ kiến thức miền đặc biệt nào. • Mô hình hóa hình dạng: Mô hình hóa hình dạng được thực hiện dựa trên các tính năng có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các phép đo kích thước. Đối với ảnh y khoa, đôi khi hữu ích khi mô tả hình dạng của một vật thể chi tiết hơn hình dạng được cung cấp bởi một tính năng đơn lẻ nhưng cô đọng hơn là được phản ánh trong chính ảnh vật thể đó.
Trong những trường hợp như vậy, bộ mô tả hình dạng thể hiện một cách nhỏ gọn hơn về hình dạng của một đối tượng. • Phân loại: Phân loại dựa trên việc lựa chọn đặc trưng, đặc điểm kết cấu và quyết định liên quan đến lớp đặc trưng. Mỗi bất thường hoặc bệnh, hoặc có dấu hiệu bệnh được công nhận là thuộc một nhóm cụ thể và việc công nhận được thực hiện như một quá trình phân loại.3 Mạch vành Động mạch vành phải và trái cung cấp máu cho tim [6], chúng là những nhánh đầu tiên của động mạch chủ, là động mạch chính trong cơ thể. Các động mạch này và các nhánh của chúng cung cấp máu cho tất cả các bộ phận của cơ tim.
Chúng giúp tim có thể đập và bơm máu đi khắp cơ thể. Mỗi nhánh chứa các nhánh nhỏ hơn đi sâu vào bên trong cơ tim. Mỗi động mạch chứa nhiều nhánh: • Động mạch vành phải (RCA): RCA cung cấp máu cho tâm nhĩ phải và tâm thất phải (nơi máu khử oxy đi trước khi đến phổi). Các nhánh của nó cung cấp cho các nút xoang nhĩ (SA) và nhĩ thất (AV).
Các nút này gửi tín hiệu điện qua tim, để cơ tim biết khi nào co bóp. Các nhánh của RCA cũng cung cấp máu cho một phần ba vách liên thất, là bức tường giữa hai ngăn dưới của tim. • Động mạch vành trái (LMCA): LMCA cung cấp máu cho tâm nhĩ trái và tâm thất trái. Đây là nơi máu đã được oxy hóa đến từ phổi trước khi tim bơm máu đến các phần còn lại của cơ thể.
Các nhánh của nó cung cấp máu cho 2/3 vách liên thất. 8 Cấu trúc của các nhánh động mạch vành thay đổi tùy theo từng người.