Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TP CẨM PHẢ VÀ NGUỒN ĐIỆN PHÂN TÁN 1. Tổng quan về lưới điện phân phối 1. Định nghĩa Lưới điện phân phối Lưới điện phân phối (LPP) là một phần của Hệ thống điện, làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian, các trạm khu vực hay thanh cái của nhà máy điện cấp điện cho phụ tải. LPP là khâu cuối cùng của hệ thống điện đưa điện năng trực tiếp đến người tiêu dùng.
LPP bao gồm lưới điện 110k, lưới điện trung áp và lưới điện hạ áp. Tính đến nay lưới điện phân phối đã trải khắp các xã trên đất nước, tuy nhiên còn một số thôn, bản vẫn chưa được dùng điện lưới Quốc gia mà họ vẫn phải dùng điện từ các thuỷ điện nhỏ hoặc máy phát điện diesel. Phân loại Lưới điện phân phối Lưới điện phân phối gồm hai phần: - LPP trung áp chủ yếu ở các cấp điện áp 6kV, 10kV, 22kV, 35kV, 110kV phân phối điện cho các trạm biến áp trung áp/hạ áp và các phụ tải cấp điện áp trung áp. - LPP hạ áp có cấp điện áp 380/220V cấp điện cho các phụ tải hạ áp.
Phân loại LPP trung áp theo 3 dạng: - Theo đối tượng và địa bàn phục vụ, có 3 loại: + Lưới phân phối thành phố; + Lưới phân phối nông thôn; + Lưới phân phối xí nghiệp. - Theo thiết bị dẫn điện: + Lưới phân phối trên không; + Lưới phân phối cáp ngầm. - Theo cấu trúc hình dáng: + Lưới phân phối hở (hình tia) có phân đoạn và không phân đoạn. + Lưới phân phối kín vận hành hở; + Hệ thống phân phối điện.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của Lưới điện phân phối LPP làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian, trạm khu vực hay thanh cái của các nhà máy điện cho các phụ tải điện. LPP được xây dựng, lắp đặt phải đảm bảo nhận điện năng từ một hay nhiều nguồn cung cấp và phân phối đến các hộ tiêu thụ điện. Đảm bảo cung cấp điện tiêu thụ sao cho ít gây ra mất điện nhất, đảm bảo cho nhu cầu phát triển của phụ tải.
Đảm bảo chất lượng điện năng cao nhất về ổn định tần số và ổn định điện áp trong giới hạn cho phép. LPP trung áp có tầm quan trọng đặc biệt đối với hệ thống điện: - Trực tiếp đảm bảo chất lượng điện áp cho phụ tải. - Giữ vai trò rất quan trọng trong đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện cho phụ tải. Có đến 98% điện năng bị mất là do sự cố và ngừng điện kế hoạch lưới phân phối.
Mỗi sự cố trên LPP trung áp đều có ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt của nhân dân và các hoạt động kinh tế, xã hội. - Sử dụng tỷ lệ vốn rất lớn: khoảng 50% vốn cho hệ thống điện (35% cho nguồn điện, 15% cho lưới hệ thống và lưới truyền tải). - Tỷ lệ tổn thất điện năng rất lớn: khoảng 40-50% tổn thất điện năng xảy ra trên LPP. Và tổn thất kinh doanh cũng chỉ xảy ra trên lưới này.
- LPP gần với người dùng điện, do đó vấn đề an toàn điện cũng là rất quan trọng. Tổng quan về lưới điện phân phối TP Cẩm Phả 1. Tổng quan TP Cẩm Phả Là thánh phố lớn thứ 2 của tỉnh Quảng Ninh, dẫn đầu trong việc khai thác và sản xuất than của tỉnh. Cẩm Phả có diện tích tự nhiên 486,45 km², địa hình chủ yếu đồi núi: đồi núi chiếm 55,4% diện tích, vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,01% và vùng biển chiếm 13,3%; số khách hàng sử dụng điện là 61152.
Sản lượng tiêu thụ điện là: …. chủ yếu là phục vụ sản xuất kinh doanh than. Lưới điện phân phối TP Cẩm Phả - LPP trung áp chủ yếu ở các cấp điện áp 6kV, 22kV, 35kV phân phối điện cho các trạm biến áp trung áp/hạ áp và các phụ tải cấp điện áp trung áp. - LPP hạ áp có cấp điện áp 380/220V cấp điện cho các phụ tải hạ áp.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân loại LPP trung áp theo 3 dạng: - Theo đối tượng và địa bàn phục vụ, có 3 loại: + Lưới phân phối trung tâm thành phố; + Lưới phân phối nông thôn; + Lưới phân phối xí nghiệp. - Theo thiết bị dẫn điện: + Lưới phân phối trên không; + Lưới phân phối cáp ngầm. - Theo cấu trúc hình dáng: + Lưới phân phối hở (hình tia) có phân đoạn và không phân đoạn. + Lưới phân phối kín vận hành hở; + Hệ thống phân phối điện.
Nguồn điện cấp cho Cẩm Phả Nguồn điện cấp cho Cẩm Phả chủ yếu là nguồn điện từ các nhà máy nhiệt điện như: Nhiệt điện Mông Dương, Nhiệt điện Cẩm Phả, Nhiệt điện Quảng Ninh. Các nhà máy này sử dụng nguồn nhiên liệu là than đá, được khai thác trực tiếp tại địa phương. Hiện này nguồn than đá tại Quảng Ninh đang dần cạn kiệt, việc sản xuất than đá phục vụ cho các nhà máy điện không còn được đảm bảo. Trong năm 2015, tập đoàn than khoáng sản Việt Nam đã phải tiến hành nhập khẩu than đá từ các nước khác Ngoài các nguồn điện truyền thống trên, hiện nay tại thành phố Cẩm Phả không có nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo nào khác.
Kết luận Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng cao dẫn đến nhu cầu về điện năng cũng rất lớn. Bên cạnh đó, các nguồn nhiên liệu truyền thống cung cấp cho các nhà máy điện lớn ngày một cạn kiệt và đã gây ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu; mặt khác, việc phải xây dựng quá nhiều các hệ thống đường dây cao áp truyền tải điện năng đi xa rất tốn kém về kinh tế và cũng gây tổn thất rất lớn. Nhằm góp phần giảm tải cho các nguồn phát điện trung tâm, giảm vốn đầu tư và tổn thất công suất trên các lưới điện truyền tải, giảm sự tác động tiêu cực đến 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trường. Trong những năm gần đây, với khoa học kỹ thuật cao, việc nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm cũng như vận hành các nguồn phát điện có công suất vừa và nhỏ đã và đang được đặc biệt quan tâm vì nhiều ưu điểm của nó.
Những nguồn phát điện này được bố trí phân tán khắp nơi có thể, làm nhiệm vụ cung cấp điện trực tiếp cho các phụ tải hoặc được đấu nối vào lưới điện phân phối để cung cấp điện cho một khu vực phụ tải rộng hơn. Những nguồn phát điện này được gọi là “Nguồn phân tán”, những ưu điểm nổi bật nhất của nó là: Các nguồn năng lượng sơ cấp của các nguồn phân tán hầu hết là các dạng năng lượng mới và tái tạo, có trữ lượng rồi rào, ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường; các nguồn này sản xuất ra điện năng tại nơi tiêu thụ, như vậy sẽ giảm được tổn thất điện năng, chi phí không phải xây dựng thêm các lưới truyền tải điện đi xa. Trên Thế giới, các nguồn phân tán đã được nghiên cứu và ứng dụng rất sớm. Tại Việt Nam, khái niệm về nguồn phân tán tuy còn mới mẻ nhưng cũng đang được quan tâm nghiên cứu rất nhiều, có nhiều nghiên cứu đã thành công và được đưa vào ứng dụng thực tế.
Để tìm hiểu kỹ hơn, trong mục (1.2) sẽ trình bày tổng quan về đặc điểm công nghệ các dạng nguồn điện phân tán, ưu nhược điểm của chúng và thực trạng các nguồn điện phân tán tại Việt Nam. Tổng quan về nguồn điện phân tán (DG) 1. Định nghĩa nguồn điện phân tán Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều công nghệ mới, nhiều loại nguồn điện phân tán đã được ứng dụng thành công. Tốc độ phát triển kinh tế tăng cao kéo theo đó, nhu cầu về năng lượng tăng cao, các vấn đề bất cập từ việc phát triển nguồn năng lượng truyền thống, cũng như những ưu điểm của nguồn điện phân tán, đang là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các DG.
Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về nguồn điện phân tán. Các định nghĩa đó như sau: - CIGRE (International Council on Large Electricity Systems) định nghĩa nguồn điện phân tán là nguồn điện không được quy hoạch tập trung, không được điều khiển tập trung và thường đấu nối vào lưới điện phân phối với quy mô công suất nhỏ hơn 50 hoặc 100MW. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - IEA (International Energy Agency) định nghĩa nguồn điện phân tán là nguồn điện phục vụ trực tiếp phụ tải khách hàng hoặc hỗ trợ cho lưới điện phân phối, được đấu nối vào hệ thống điện ở các cấp điện áp của lưới phân phối. - IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers Inc.) định nghĩa nguồn điện phân tán là nguồn phát điện nhỏ hơn những nhà máy điện trung tâm, thường nhỏ hơn hoặc bằng 10MW, cho phép đấu nối vào bất kỳ điểm nào trong hệ thống điện.
- EPRI (Electric Power Research Institute) định nghĩa nguồn điện có công suất từ vài kW đến 50MW và/hoặc các thiết bị lưu điện có vị trí gần phụ tải khách hàng hoặc lưới phân phối và các trạm biến áp truyền tải trung gian là những nguồn điện phân tán. Như vậy, những định nghĩa về nguồn điện phân tán thường căn cứ vào quy mô công suất và cấp điện áp đấu nối. Đặc điểm công nghệ nguồn phát điện phân tán Hình 1. Sơ đồ phân loại các nguồn phần tán Nguồn phân tán có thể chia ra làm hai nhóm chính theo công nghệ chế tạo: - Nhóm nguồn năng lượng tái tạo: Điện gió, điện mặt trời, thủy điện nhỏ, điện sinh khối, địa nhiệt điện, điện thủy triều.
- Nhóm nguồn năng lượng không tái tạo: Động cơ đốt trong (Diesel), pin nhiện liệu, tua bin hơi. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó các DG tái tạo đang được ưu tiên thúc đẩy phát triển nhanh chóng do các tác động tích cực của chúng đến môi trường. Các công nghệ DG và dải công suất thông thường được chỉ ra trong bảng 1. Dải công suất tương ứng của các công nghệ DG Loại DG Dải công suất Loại DG Dải công suất Thủy điện nhỏ 1 - 100MW Điện sinh khối 100kW - 20MW Thủy điện rất nhỏ 25kW - 30MW Pin nhiên liệu 1kW - 5MW Điện gió 200W - 3MW Địa nhiệt 5MW - 1000MW Pin quang điện 20W - 100kW Năng lượng biển 100kW - 1MW Điện mặt trời 1 - 80MW 1.
Mạng điện Microgid Với sự đa dạng về các DG như vậy, trong tương lai Mạng Micro - Grid sẽ chiếm ưu thế.