CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ: Hệ thống vận tải công cộng thành phố, đặc biệt là hệ thống đường sắt đóng một vai trò quan trọng kể từ nửa cuối thế kỷ 19. Tàu điện mang lại lợi ích xã hội do tăng tốc độ lưu thông và giảm giá vé, phí đi lại rẻ đã giúp người lao động đi lại từ chỗ ở đến nơi làm việc với một cự ly đáng kể, vì vậy việc làm nhà ở ngoại thành đã trở nên khả thi đối với người có thu nhập thấp và như vậy tránh được việc tập trung quá đông dân cư ở khu vực trung tâm thành phố. Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ 20 hầu hết các thành phố lớn và vừa ở châu Âu đã xây dựng những mạng lưới tàu điện nội đô và nó là phương tiện giao thông công cộng duy nhất.
Tuy nhiên ngày càng gia tăng nhu cầu giao thông và ngày càng xuất hiện nhiều hơn các loại hình giao thông công cộng và điều này đã làm nảy sinh các vấn đề vướng mắc trong chính các loại hình dịch vụ giao thông công cộng. Đã có sự thay đổi lớn xảy ra khi các xe ô tô cá nhân và xe buýt công cộng gia tăng. Tại Mỹ vận tải đường sắt trên phố đã suy giảm rất sớm. Các nhà sản xuất lốp ô tô và các công ty dầu lửa đã mua các tuyến xe điện và chấm dứt sự hoạt động của chúng.
Vận tải đường sắt nội đô được đánh giá là vật cản của hệ thống giao thông đô thị và phải nhường chỗ cho giao thông dựa vào ô tô. Phải thừa nhận rằng ô tô cá nhân và xe buýt đưa lại nhiều tiện lợi. Tuy nhiên vào những năm 1970 các tuyến đường bộ ngày càng trở nên đông đúc. Những tiện ích của xe ô tô nay đã trở nên bất tiện thay vào đó là việc tăng thời gian đi lại.
Ngoài ra vấn đề ô nhiễm không khí do các động cơ đốt trong gây nên đã đang là vấn đề hết sức bức xúc. Chính vì vậy đã làm nảy sinh những ý tưởng mới nhằm phục hồi giao thông đường sắt và phát triển những hệ thống đường sắt mới chất lượng cao. Khoảng 30 năm gần đây, đặc biệt là trong thập kỷ 90 thế kỷ 20 đường sắt đô thị phát triển rất nhanh trên thế giới. Trước năm 1970 chỉ có ít thành phố có hệ thống đường sắt đô thị thì đến nay đã có khoảng 190 thành phố có hệ thống này Häc viªn: TrÇn ViÖt Dòng Trang 4 Líp: Cao häc CÇu – 2007 luËn v¨n th¹c sü kü thuËt GVHD: PGS.TS NguyÔn phi l©n và hàng chục thành phố khác đang xây dựng nằm rải rác trên 70 nước trên thế giới.
Sở dĩ đường sắt đô thị phát triển như vậy vì nó có những ưu điểm cơ bản sau đây: - Năng lực chuyên chở lớn: Năng lực của một tuyến tàu điện hiện đại có thể lên tới 30.000 hành khách/giờ. - Diện tích chiếm đất ít: Thống kê cho thấy vận tải xe con phải chiếm tới 36m2 đất cho 1.000 chỗ ngồi-km, xe buýt mất 6,3 m2 còn đường sắt đô thị chỉ mất 3,5 m2. Khi tuyến tàu điện đi lên cao (Elevated) hoặc đi ngầm (Underground) thì diện tích chiếm đất của thành phố lại càng ít hơn. - Tất cả các loại hình đường sắt đô thị đều dùng năng lượng điện nên độ ô nhiễm không khí rất nhỏ so với ô tô con và xe buýt.
Vấn đề giảm tiếng ồn cũng được xử lý triệt để trên các tuyến đường sắt đô thị hiện đại. - Tiết kiệm năng lượng: Tính cho 1.000 chỗ ngồi-km thì vận tải ô tô con hết 262 KW/h, xe buýt hết 58 KW/h, metro hết 64 KW/h và tàu điện nhẹ hết 56 KW/h. - An toàn: Thống kê năm 1987 ở Nhật cho thấy số người chết do tai nạn giao thông tính trên 1 tỷ HK-Km ở vận tải ô tô lớn gấp 9,6 lần đường sắt đô thị. - Việc rút ngắn thời gian chạy tàu do tốc độ bình quân của đường sắt đô thị thường cao hơn vận tải ô tô khoảng hơn 3 lần và bảo đảm đi đến đúng giờ, không bị ảnh hưởng bởi những trở ngại ngẫu nhiên trên đường.
Phân loại đường sắt đô thị Trong thực tế việc phân loại đường sắt đô thị rất khác nhau. Tên đặt cho các hệ thống khác nhau từ nước này sang nước khác và thậm chí là khác nhau từ thành phố này đến thành phố khác trong cùng một nước. Các nhóm khái niệm được dùng để phân loại: a. Theo mức độ hoạt động (kể cả năng lực thông qua) - Street Transit: đường sắt đô thị trong các khu phố - Semirapid Transit: đường sắt đô thị bán tốc độ cao hoặc đường sắt đô thị khối lượng vận tải vừa - Mass Rapid Transit: đường sắt đô thị tốc độ cao hoặc đường sắt đô thị khối lượng vận tải lớn.
Häc viªn: TrÇn ViÖt Dòng Trang 5 Líp: Cao häc CÇu – 2007 luËn v¨n th¹c sü kü thuËt GVHD: PGS.TS NguyÔn phi l©n b. Theo các đặc trưng cơ bản - Không dẫn hướng (Nonguided) - Dẫn hướng (Guided) c. Theo đặc trưng vận hành - Vận hành thủ công - Vận hành tự động Theo công nghệ đường sắt phân thành đường sắt đô thị có sức chở trung bình, đường sắt đô thị có sức chở lớn, và Đường sắt công nghệ mới hiện đại. Cả ba loại này đều thuộc loại dẫn hướng.
- Đường sắt đô thị có sức chở trung bình (dưới 30.000 hành khách/giờ) gồm + Tàu điện 1 ray (Monorail); Tàu điện 1 ray có 2 kiểu; kẹp và treo. + Tàu điện nhẹ LRT (Light Rail Trainsit) với các đặc trưng là: Tách riêng làn đường. Hệ thống thông tin tín hiệu hiện đại giúp khai thác LRT với tốc độ cao. Các toa xe hiện đại, gia giảm tốc nhanh, có thiết bị kiểm tra tự động.
- ĐSĐT có sức chở lớn - Heavy rail system. Thuộc loại này có tàu cao tốc Express, SBahn và Metro. Đoàn tàu thường gồm 4 - 10 toa, năng lực vận tải rất lớn (60.000 hành khách/giờ). - Các loại hình vận tải mới xuất hiện + Tàu tự động không người lái AGT (Automatic Guided Train) chạy trên một đường dẫn hướng riêng biệt.
+ Tàu động cơ tuyến tính LIM (Linear Motor). Mỗi trục xe gắn một động cơ tuyến tính chạy trên ray khổ 1435, cấp điện 1500DC. + Tàu đệm từ MAGLEV. Động cơ tuyến tính nhưng chạy trên một đệm không khí do lực đẩy của từ tạo nên.
Đệm không khí dày 10mm tới 100mm + Tàu không lưu (Aeromover) hoạt động theo nguyên lý chuyển động của tàu cánh buồm. Các loại hình đường sắt đô thị điển hình : ( Đường sắt một ray, đường sắt 2 ray) Häc viªn: TrÇn ViÖt Dòng Trang 6 Líp: Cao häc CÇu – 2007 luËn v¨n th¹c sü kü thuËt GVHD: PGS.TS NguyÔn phi l©n 1.Đường sắt một ray Hình 1.1 Loại hình đường sắt 1 ray Häc viªn: TrÇn ViÖt Dòng Trang 7 Líp: Cao häc CÇu – 2007 luËn v¨n th¹c sü kü thuËt GVHD: PGS.TS NguyÔn phi l©n Hình 1.2 Tàu ray đơn (hay tàu một ray-monorail) là phương tiện giao thông công cộng chỉ có một đường ray làm đường dẫn. Mỗi đoàn tàu thường gồm 2/4/6 toa hoặc nhiều hơn. Ray của Monorail cũng chính là dầm đỡ toàn bộ trọng lượng tàu và làm nhiệm vụ dẫn hướng cho tàu.
Do ray của monorail phải làm cả hai công tác trên nên thường được đúc bằng bê tông dự ứng lực với chiều rộng khoảng 80cm, cao khoảng 1,2m hoặc có thể làm bằng ống thép hộp. Tàu monorail sử dụng bánh lốp, mỗi cụm bánh thường có: 2 bánh chịu tải nằm phía trên ray, 4-8 bánh dẫn hướng ôm lấy hai bên ray. Các bánh dẫn hướng này lăn ở cạnh bên ray và lái bánh chịu tải theo hướng ray. Do thiết kế trên nên monorail có những ưu nhược điểm sau: Ưu điểm - Do bánh của tàu ôm ray ở cả ba phía nên tàu không thể bị trật khỏi đường ray, khi gặp sự cố nổ lốp bánh hơi thì tàu hạ xuống bánh sắt dự phòng hay bánh cao su đặc lồng trong ruột bánh hơi.
- Chi phí bảo trì đường ray thấp, vì mọi hao mòn sẽ diễn ra trên bánh lốp chứ không phải trên ray.000km tàu sẽ phải thay lốp. - Chi phí đầu tư cho tàu ray đơn không cao lắm, vào khoảng từ 36 triệu USD/km (Kuala Lumpur, 2003) đến 20 triệu USD/km (Dubai, 2008), ngày càng giảm dần nhờ tiến bộ công nghệ và sự cạnh tranh.- Do tàu sử dụng bánh lốp nên có khả năng leo dốc tốt, 6 – 10%, trong khi tàu hai ray dùng bánh sắt thường chỉ được 2-3%. Häc viªn: TrÇn ViÖt Dòng Trang 8 Líp: Cao häc CÇu – 2007 luËn v¨n th¹c sü kü thuËt GVHD: PGS.TS NguyÔn phi l©n - Xây dựng nhanh chóng, ít ảnh hưởng đến giao thông xung quanh, việc xây dựng chủ yếu diễn ra trong xưởng đúc bê tông: + Công tác thi công trụ: Trụ của monorail rất nhỏ, chỉ khoảng 1m bề ngang, nên có thể đặt tại giải phân cách giữa đường thành phố, trụ có thể làm bằng bê tông đúc sẵn nên việc đúc trụ có thể diễn ra trong xưởng đúc bê tông nên việc thi công sẽ không chiếm dụng đường, có thể dễ dàng xây dựng vào ban đêm, ban ngày trả lại đường để lưu thông; + Ray được chế tạo bằng các dầm bê tông đúc sẵn dự ứng lực trước nên có thể đúc ray từ xưởng đúc, sau đó mang đến đặt lên các trụ và thực hiện gắn kết các ray lại với nhau; - Do tàu ray đơn thường chạy trên cao nên không cản trở giao thông trên mặt đất, và tuy chạy trên cao nhưng vì hai ray đi và về tách rời nhau, đặt trên cột đường kính 1m cách nhau 30m, nên không che khuất bầu trời nhiều để gây cảm giác nặng nề tối tăm như đường ô tô hoặc đường sắt trên cao; Hình 1.3 - Đường ray có bán kính cong tối thiểu là 50m nên dễ uốn cong tại các ngã tư và luồn lách theo các tuyến phố vừa hẹp vừa uốn lượn, bên cạnh đó do tàu ray đơn chạy êm nên có thể chạy sát các công trình trong đô thị. Häc viªn: TrÇn ViÖt Dòng Trang 9 Líp: Cao häc CÇu – 2007 luËn v¨n th¹c sü kü thuËt GVHD: PGS.