Luận văn thạc sĩ về tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn tiếng việt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2010

146
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn tiếng Việt

Tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn tiếng Việt là một khái niệm quan trọng trong ngôn ngữ học. Nó không chỉ phản ánh cách thức mà người nói thể hiện thái độ của mình đối với người nghe mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp. Tình thái giảm nhẹ giúp người nói thể hiện sự lịch sự, tôn trọng và tạo ra không gian cho sự đồng thuận trong giao tiếp. Nghiên cứu về tình thái giảm nhẹ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc dạy và học tiếng Việt hiệu quả hơn.

1.1. Khái niệm tình thái và vai trò trong ngôn ngữ

Tình thái trong ngôn ngữ được hiểu là cách mà người nói thể hiện thái độ, cảm xúc và ý định của mình thông qua lời nói. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mối quan hệ giữa người nói và người nghe, giúp giao tiếp trở nên hiệu quả hơn.

1.2. Lịch sử nghiên cứu tình thái trong tiếng Việt

Nghiên cứu về tình thái trong tiếng Việt đã có từ những năm 40 của thế kỷ trước. Các tác giả như Trần Trọng Kim và Phạm Duy Khiêm đã đề cập đến khái niệm này, mở đường cho nhiều nghiên cứu sâu hơn về tình thái trong ngôn ngữ Việt Nam.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tình thái giảm nhẹ

Mặc dù tình thái giảm nhẹ đã được nghiên cứu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc hệ thống hóa các phương tiện biểu thị tình thái này. Một trong những vấn đề lớn là sự đa dạng và phong phú của các phương tiện ngôn ngữ, khiến cho việc phân loại và nhận diện trở nên khó khăn. Hơn nữa, việc áp dụng các lý thuyết tình thái vào thực tiễn giao tiếp cũng gặp nhiều trở ngại.

2.1. Đa dạng các phương tiện biểu thị tình thái

Các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt rất phong phú, bao gồm từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm. Sự đa dạng này tạo ra khó khăn trong việc xác định và phân loại các phương tiện một cách chính xác.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn

Việc áp dụng lý thuyết tình thái vào thực tiễn giao tiếp đòi hỏi người học phải nắm vững các quy tắc và sắc thái ngôn ngữ. Điều này có thể gây khó khăn cho cả người học tiếng Việt và người nước ngoài.

III. Phương pháp nghiên cứu tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn

Để nghiên cứu tình thái giảm nhẹ, các phương pháp phân tích diễn ngôn và ngữ nghĩa được áp dụng. Phân tích diễn ngôn giúp nhận diện các yếu tố tình thái trong ngữ cảnh cụ thể, trong khi ngữ nghĩa giúp hiểu rõ hơn về cách mà các từ và cấu trúc ngữ pháp thể hiện thái độ của người nói.

3.1. Phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu tình thái

Phân tích diễn ngôn là phương pháp quan trọng giúp nhận diện các yếu tố tình thái trong ngữ cảnh giao tiếp. Nó cho phép người nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách mà người nói sử dụng ngôn ngữ để thể hiện thái độ và cảm xúc.

3.2. Ứng dụng ngữ nghĩa trong nghiên cứu tình thái

Ngữ nghĩa giúp làm rõ cách mà các từ và cấu trúc ngữ pháp thể hiện ý nghĩa tình thái. Việc áp dụng ngữ nghĩa vào nghiên cứu tình thái giảm nhẹ giúp tạo ra cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức giao tiếp trong tiếng Việt.

IV. Ứng dụng thực tiễn của tình thái giảm nhẹ trong giao tiếp

Tình thái giảm nhẹ có ứng dụng quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Việc sử dụng các phương tiện tình thái giúp người nói thể hiện sự lịch sự và tôn trọng đối với người nghe. Điều này đặc biệt quan trọng trong các tình huống giao tiếp chính thức và trong môi trường đa văn hóa.

4.1. Tình thái giảm nhẹ trong giao tiếp hàng ngày

Trong giao tiếp hàng ngày, việc sử dụng tình thái giảm nhẹ giúp tạo ra không khí thân thiện và hòa nhã. Người nói có thể sử dụng các từ ngữ và cấu trúc câu để thể hiện sự tôn trọng và lịch sự.

4.2. Ứng dụng trong môi trường đa văn hóa

Trong môi trường đa văn hóa, việc hiểu và áp dụng tình thái giảm nhẹ là rất cần thiết. Nó giúp người nói tránh được những hiểu lầm và tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với người khác.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tình thái giảm nhẹ

Nghiên cứu tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn tiếng Việt vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Việc hệ thống hóa các phương tiện biểu thị tình thái sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp. Tương lai của nghiên cứu này cần được mở rộng hơn nữa để đáp ứng nhu cầu giao tiếp trong xã hội hiện đại.

5.1. Tiềm năng phát triển của nghiên cứu tình thái

Nghiên cứu tình thái giảm nhẹ có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Việc hệ thống hóa các phương tiện biểu thị tình thái sẽ giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp trong tiếng Việt.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Hướng nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc ứng dụng các lý thuyết tình thái vào thực tiễn giao tiếp. Điều này sẽ giúp người học tiếng Việt và người nước ngoài hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.

16/07/2025
Luận văn thạc sĩ tình thái giảm nhẹ trong diễn ngôn tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH THÁI VÀ TÌNH THÁI GIẢM NHẸ TRONG DIỄN NGÔN 1.1 Về diễn ngôn 1.1 Khái niệm diễn ngôn Việc nghiên cứu diễn ngôn được hình thành trong lòng ngôn ngữ học nhưng nó không xuất hiện ngay trong một lúc bằng một sáng kiến riêng mà trải qua một quá trình tìm kiếm hướng đi. Có thể thấy sau khi ngôn ngữ học tiền cấu trúc của F. de Saussure và cấu trúc luận của L. Bloomfield phát triển rực rỡ thì việc tiếp cận những giới hạn cuối cùng trong lí thuyết của họ đã dẫn đến sự thu hút chú ý của các nhà nghiên cứu về các cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu.

Những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu được nêu lên thành đối tượng nghiên cứu vào những năm 60 của thế kỷ XX dưới tên “Ngôn ngữ học văn bản” (Text Linguistics), “Phân tích văn bản” (Text Analysis), “Phân tích chức năng” (Functional Analysis). Ở giai đoạn “ngữ pháp văn bản”, phân tích diễn ngôn (PTDN) chủ yếu thao tác với “liên kết” và đã có một loạt các công trình nghiên cứu, nổi bật như “Cohesion in English” (Liên kết trong tiếng Anh) [95] của M. Ở thời kỳ hậu “ngữ pháp văn bản”, khi vấn đề mạch lạc và cấu trúc của văn bản càng được quan tâm hơn thì các nhà ngôn ngữ học đã đề nghị gọi địa hạt mới này là PTDN. Phải ghi nhận rằng người đầu tiên đề cập đến và đưa ra cái tên PTDN là Z.

Harris với tác phẩm “Discourse Analysis” (1952), người thứ hai được biết đến là Mitchell và người có công truyền bá PTDN cùng với tên gọi của nó là T. Harris, PTDN đã có được một đối tượng nghiên cứu rõ ràng. Đó là diễn ngôn. Từ khi PTDN trở thành một lĩnh vực được nhiều người quan tâm, đã có nhiều đường hướng PTDN ra đời.

Austin và một nhánh dựa trên tư tưởng triết học nguyên tắc cộng tác của H. Grice; đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác; đường hướng dân tộc học giao tiếp; đường hướng thừa nhận các biến thể ngôn ngữ ít nhiều mang tính khuôn mẫu về mặt xã hội và ngôn ngữ; đường hướng giao tiếp liên văn hóa. Các đường hướng nghiên cứu trên đã cho thấy xu hướng nghiên cứu chức năng khi PTDN. PTDN nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức, ngôn ngữ trong sử dụng (language in use).

Như vậy, không thể giới hạn nó ở việc miêu tả các ngôn ngữ hình thức tách biệt với các mục đích hay chức năng mà các hình thức này được sinh ra để đảm nhận trong xã hội loài người. Widdowson đã xem diễn ngôn là một tiến trình giao tiếp. Ở đó nhà nghiên cứu sẽ nghiên cứu từ, ngữ và câu xuất hiện trong dữ liệu thành văn của diễn ngôn để làm bằng chứng về sự nỗ lực của người phát (người viết/người nói) để chuyển giao thông điệp cho người nhận (người nghe/người đọc). Cũng phải đặc biệt chú ý đến tình huống, hoàn cảnh ảnh hưởng đến kết cấu diễn ngôn [theo 34; 48].

Như vậy, do đã được xác định là một sự kiện hay quá trình giao tiếp cho nên diễn ngôn không phải chỉ là một đoạn hay một chuỗi các câu bất kỳ mà nó là toàn bộ sự kiện giao tiếp có tính mục đích, thống nhất và có mạch lạc được ghi nhận lại bằng toàn bộ văn bản. Có thể chấp nhận định nghĩa ngắn gọn của Nguyễn Hòa như sau: “Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” [34; 33]. Và như vậy, là một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh, diễn ngôn phải có tính chủ đề từ chủ đề bộ phận đến chủ đề chung, có mạch lạc. Để tạo nên mạch lạc, diễn ngôn không những phải thể hiện sự liên kết trên nhiều phương diện mà còn là sự tổ chức một cách hợp lí các yếu tố quan yếu có giá trị giao tiếp tuân theo quy tắc cần và đủ (nói thế nào là đủ, là đúng trọng tâm; nói thế nào là thừa, rườm rà, lạc đề).

Nói đến “hoàn cảnh giao tiếp cụ thể” là nói đến tác động của các yếu tố tình huống ngoài ngôn ngữ đối với sự hoạt động của ngôn ngữ như: yếu tố văn hóa, yếu tố dụng học. Sự kết hợp các yếu tố trên không đơn thuần là phép tính cộng mà nên được hiểu như một hàm có nhiều biến. Ở Việt Nam, việc quan tâm đến diễn ngôn, PTDN đã được khẳng định thông qua nhiều nghiên cứu của các tác giả như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu (1985), Trần Ngọc Thêm (1985), Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo (1991), Diệp Quang Ban (1998) (2009), Nguyễn Thiện Giáp (2000) (2008), Nguyễn Hòa (2005) (2008). Các tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề như: chiếu vật và chỉ xuất, lí thuyết hành động ngôn ngữ, lí thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh, ý nghĩa hàm ngôn, ngữ cảnh và ý nghĩa, diễn ngôn và PTDN, diễn ngôn và văn hóa, dụng học giao văn hóa…vv 1.2 Diễn ngôn và văn bản Có thể nói diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) là hai khái niệm cơ bản trong lí luận PTDN.

Trong thực tế, việc phân định rạch ròi diễn ngôn và văn bản là điều không đơn giản. Nhiều tác giả sử dụng diễn ngôn cũng như là văn bản. Có khi văn bản còn được hiểu theo hai phương diện: là sản phẩm (product) và là quá trình (process). Với nghĩa là sản phẩm, văn bản là một thực thể có thể ghi nhận lại được và có một cấu trúc nhất định; với nghĩa là một quá trình, văn bản là sự lựa chọn nghĩa liên tục, một quá trình vận động qua các ngữ vực (register).

Diệp Quang Ban (2009), trong “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản” [4] đã tổng hợp và phân tích một số định nghĩa nhằm phân biệt diễn ngôn và văn bản như sau: Trước tiên R. Barthes (1970) cho rằng đối tượng khảo sát được gọi là “diễn ngôn” cũng là “văn bản”, nhưng văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu, còn diễn ngôn do “ngôn ngữ học diễn ngôn” nghiên cứu với những nội dung nghiên cứu riêng. Ở đây, Barthes đã có tính đến các mục đích giao tiếp (mặt xã hội) và sự liên thông giữa văn hóa với ngôn ngữ. Bellert (1971) xem diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn, trong đó việc lí giải nghĩa của mỗi phát ngôn lệ thuộc vào sự lí giải những phát ngôn trong chuỗi.

Do đó, sự giải thuyết tương đương một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước. Như vậy, có thể hiểu tên gọi diễn ngôn của bà bao gồm cả văn bản. Cook đã xác định sự khác biệt giữa diễn ngôn và văn bản dựa trên sự đối lập giữa chức năng và hình thức. Diễn ngôn thể hiện tính chức năng của ngôn ngữ trong khi văn bản thể hiện mặt hình thức của ngôn ngữ hành chức.

Cũng theo Diệp Quang Ban, (1998), trong “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” [1], các khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” đã từng được sử dụng qua các giai đoạn như sau: (1) Văn bản được dùng để chỉ chung các sản phẩm của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết. (2) Có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói. Hasan (1976) là các tác giả thể hiện quan điểm thứ nhất. Thuật ngữ hai tác giả này sử dụng là “text – văn bản”.

Theo hai tác giả này, “văn bản có thể là bất kỳ đoạn văn nào, viết hay nói, dài hay ngắn tạo nên một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh”, “văn bản là một đơn vị ngôn ngữ hành chức” và “văn bản là một đơn vị ngữ nghĩa.” [95; 1- 2] Hồ Lê (1996) theo hướng thứ hai: “Văn bản là chỉnh thể của một sản phẩm viết để diễn đạt trọn vẹn một ý kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề. Ngôn bản là chỉnh thể của một sản phẩm nói để diễn đạt trọn vẹn một ý kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề” [46; 55]. Nunan trong “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” (bản dịch của Hồ Mỹ Huyền - Trúc Thanh) (1997) thì sử dụng “thuật ngữ văn bản để chỉ bất kì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp”. Còn “thuật ngữ diễn ngôn lại để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh.

Yule (2002) trong “Phân tích diễn ngôn” xem “văn bản như là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp”. Ở một đề mục cụ thể, hai tác giả đã khẳng định: “sự biểu hiện của diễn ngôn: văn bản. Widdowson cũng là một tác giả có cách phân biệt diễn ngôn và văn bản giống với G. Widdowson xem diễn ngôn là một quá trình giao tiếp.

Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là Văn bản. [theo 34; 32] Từ những quan điểm nêu trên, rõ ràng là trên một phương diện nhất định, diễn ngôn hay văn bản có thể coi là hai mặt của một sự vật, tuy ngoại diên của diễn ngôn rộng hơn so với văn bản, bởi lẽ với tư cách là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, nó còn bao hàm cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học và các tác động của các chiến lược văn hóa ở người sử dụng ngôn ngữ. Có thể hiểu văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể. Chúng tôi tán đồng quan điểm của Nguyễn Hòa: “Nên thấy rằng, trong thực tế rất khó có thể phân biệt rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản bởi lẽ trong văn bản sẽ có cái diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có cái văn bản.

Cho nên sự phân biệt chỉ mang tính chất tương đối. Đây không phải là hai thực thể tách biệt mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp xã hội.3 Các kiểu loại diễn ngôn Trong thực tế, việc phân loại diễn ngôn là một vấn đề phức tạp, có nhiều cách phân loại diễn ngôn khác nhau, song vẫn có những giao nhau trên nhiều phương diện. Lí do chủ yếu là ngôn ngữ tồn tại trong vô vàn các tình huống giao tiếp và như vậy sẽ có vô vàn các dạng diễn ngôn sử dụng theo từng tình huống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ