mở đầu cho việc hình thành một hướng nghiên cứu mới trong đó spin của điện tử là đối tượng được quan tâm. Việc sử dụng spin và điều khiển chúng theo phương thức sử dụng từ trường kết hợp với điện trường có thể sẽ mở ra một thời kỳ mới cho điện tử học truyền thống đang ở tình trạng khủng hoảng. Vũ Thị Hoài Hương ITIMS 2007 -6- Luận văn tốt nghiệp Hình 1. Các “nút” công nghệ logic và độ dài của cổng Transistor theo dòng thời gian [19].
Cho đến năm 1995, người ta cho rằng đã hình thành lĩnh vực từ điện tử học (Magnetoelectronics) ở trong điện tử học truyền thống [20]. Từ đó một loạt những cấu trúc mới, vật liệu từ mới và hiện tượng vật lý mới đã xuất hiện có thể khai thác và điều khiển spin. Đó là các cấu trúc van spin (spin valve) [21], hiệu ứng GMR trong các cấu trúc từ kiểu dạng hạt [22], cấu trúc tiếp xúc xuyên ngầm từ (magnetic tunnel junction, MTJ) với hiệu ứng từ điện trở xuyên ngầm (tunneling magnetoresistance, TMR) [7], hiệu ứng từ điện trở xung kích (ballistic magneto-resistance, BMR) [23], hiệu ứng GMR của sợi carbon nano [24], các cấu trúc tiếp xúc dị thể sắt từ - bán dẫn [25], hiệu ứng từ điện trở siêu khổng lồ (colossal magnetoresistance, CMR) [26], v. Nhiều vật liệu mới sử dụng cho spintronics đã được tìm kiếm nhằm mục đích làm nguồn spin trong các linh kiện spintronics.
Chúng sẽ góp phần làm tăng hiệu suất vận chuyển spin, Vũ Thị Hoài Hương ITIMS 2007 -7- Luận văn tốt nghiệp tăng khả năng tích tụ và phun spin, và tăng chiều dài khuyếch tán hay thời gian hồi phục spin của các cấu trúc vận chuyển spin [27]. Các đặc trưng của các thiết bị điện tử thế hệ mới sẽ có tính tổ hợp cao (cả điện tử hoc, từ học và quang tử), đa chức năng, thông minh, nhỏ gọn, tiêu thụ ít năng lượng nhưng hiệu suất cao, xử lý thông tin với tốc độ rất cao, và đặc biệt là có khả năng kết nối internet, liên lạc không dây và điều khiển từ xa. Các chức năng đó mới có thể tìm thấy trong các cấu trúc nano. Các cấu trúc nano có từ tính và có kích thước đặc trưng trong một khoảng từ một vài khoảng cách nguyên tử đến một micromet.
Các cấu trúc nano từ tính biểu hiện rất nhiều hiện tượng vật lý thú vị đã được ứng dụng hoặc đang có khả năng ứng dụng rất lớn. Các vật liệu có cấu trúc dị thể hay cấu trúc nano dạng hạt (granular) bao gồm các hạt nano (ba chiều) trên nền pha vật liệu vô định hình. Trong trường hợp này, từ tính có thể tồn tại trên một hoặc trên cả hai pha. Đây là cấu trúc điển hình của các vật liệu từ mềm và từ cứng có cấu trúc nano, các vật liệu có hiệu ứng từ - điện trở khổng lồ Fe/Cu.
Co/Ag… Các cấu trúc nano một chiều cho bốn loại màng mỏng đa lớp (multilayers), vanspin (spin valve), công tắc spin (spin switches) và tiếp xúc xuyên ngầm (spin- tunnel junction). Hiện nay, khi các cấu trúc MTJ đang được đưa vào các linh kiện spintronic, chagnr hạn như trong các bộ nhớ kiểu từ tính truy cập ngẫu nhiên (MRAM) hay cảm biến từ trường, thì các màng mỏng điện môi như Al 2O3, MgO. GeO,… với vai trò làm hàng rào điện môi trong các cấu trúc MTJ được quan tâm nghiên cứu vì tính chất vật lý của các vật liệu này có tầm quan trọng Vũ Thị Hoài Hương ITIMS 2007 -8- Luận văn tốt nghiệp đặc biệt đối với chất lượng của cấu trúc MTJ vì nó quyết định hiệu xuất xuyên ngầm phụ thuộc spin của các điện tử qua cấu trúc. Trong vài thập kỷ vừa qua, nhiều hiện tượng vật lý mới trong các vật liệu và các hệ từ tính với kích thước tới hạn đã được phát minh.
Trong số các phát minh đó, việc tìm ra hiệu ứng từ - điện trở khổng lồ (Giant MagnetoResistance GMR) vào năm 1988 của các nhà vật lý Pháp và Đức trong các hệ màng đa lớp sắt từ với lớp kim loại không từ xen giữa thật sự đã mở ra khả năng phát triển các linh kiện điện tử dựa trên cơ chế vật lý hoàn toàn mới – loại linh kiện điện tử dựa vào một tham số lượng tử là spin của điện tử. Chính từ phát minh này và các kết quả nghiên cứu đã đạt được về hiệu ứng GMR trong những năm qua, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư dựa trên các thành tựu về kỹ thuật điện tử spin đã được dự báo cho những năm đầu của thế kỷ 21. Với tầm quan trọng của phát minh đó, hai nhà khoa học người Pháp Albert Fert và nhà khoa học người Đức Peter Grunberg đã giành Giải Nobel Vật lý 2007. Năm 1975, Julliere phát hiện và công bố hiệu ứng từ điện trở xuyên ngầm (Tunneling Magneto Resistance - TMR) khi nghiên cứu hệ vật liệu ba lớp bao gồm lớp vật liệu oxit vô định hình α - Ge2O cách điện nằm xen giữa hai lớp kim loại sắt từ Fe và Co: Fe/ α - Ge 2O /Co.
Julliere đã đưa ra mô hình cho các tiếp xúc xuyên hầm từ FM/I/FM ở đó dòng điện đường ngầm trong mỗi kênh spin tỉ lệ với tích số của mật độ trạng thái đường ngầm hiệu dụng ở mức Fermi của hai điện cực kim loại. Đối với tiếp xúc xuyên ngầm Fe/ α - Ge2O /Co, Julliere đã quan sát được sự thay đổi độ dẫn (G) bằng 14% cho trường hợp không đặt thế giữa hai điện cực ở nhiệt độ 4,2K. Trong khi đó giá trị được mong đợi từ mô hình của Julliere tính Vũ Thị Hoài Hương ITIMS 2007 -9- Luận văn tốt nghiệp toán theo công thức (1.1) phải là 26% với giá trị của độ phân cực P Co=34% và P Fe = 44% ∆G G P − G AP 2P1 P2 TMR = = = (1.1) GP GP 1 + P1 P2 Hơn thế nữa, hiệu ứng này còn giảm rất nhanh xuống còn 2% khi có thế một chiều 6mV đặt vào. Sự suy giảm nhanh khi có thế đặt vào được cho là do tán xạ spin ở bề mặt tiếp xúc kim loại sắt từ/ bán dẫn.
Sau phát minh của Julliere, một vài nhóm thực nghiệm khác trên thế giới đã cố gắng nghiên cứu hiệu ứng xuyên ngầm giữa hai điện cực sắt từ. Thí nghiệm đầu tiên của Maekawa và Gafvert thực hiện vào năm 1982 cho tỉ số TMR xấp xỉ 3% ở 4,2K trên cấu trúc Ni/NiO/Co. Hiệu ứng đó cũng giảm nhanh khi nhiệt độ tăng lên và tỉ số TMR thu được ở 77K nhỏ hơn rất nhiều lần giá trị đo ở 4,2K. Một vài nhóm khác cũng quan sát được hiệu ứng TMR trên các cấu trúc với các lớp vật liệu cách điện như NiO, CoO,GdxO và Al2O3 nhưng tất cả các thí nghiệm đều cho tỉ số TMR không lớn hơn 7% ở nhiệt độ 4,2K và thậm trí chỉ đạt được giá trị 1% ở nhiệt độ phòng.
Sau 20 năm kể từ phát hiện của Julliere, đến năm 1995, các nhà khoa học mới thu được thành công đáng kể cho giá trị TMR = 10% ở nhiệt độ phòng trên cấu trúc Fe/Al – O/CoFe. Kể từ đó, ưu thế của các cấu trúc TMR so với GMR trở nên nổi trội rõ rệt, sự tăng vọt về giá trị TMR đã xảy ra. Đến năm 2000, tỉ số TMR đã đạt đến giá trị 70%. Trong thời gian này, với việc thay thế lớp điện môi Al – O bằng MgO, các nhà khoa học đã đạt được tỉ số TMR vào khoảng 270% ở nhiệt độ phòng.
Vào năm 2007, các nhà khoa học Đại học Tohuku (Nhật Bản) đã đạt được giá trị kỉ lục TMR = 500% ở nhiệt độ phòng và TMR = 1010% ở nhiệt độ 5K. Vũ Thị Hoài Hương ITIMS 2007 - 10 - Luận văn tốt nghiệp Năm 1994, nhóm tác giả H. Ohnuma đã chứng tỏ rằng hiệu ứng từ điện trở kiểu xuyên ngầm có thể quan sát được trong màng mỏng từ dạng hạt Co – Al – O có điện trở suất cao [28] với giá trị GMR đạt được cỡ 8% trong màng có điện trở suất cỡ 10 4 μΩcm. Ngay từ đầu những năm 70, nhóm tác giả Gittleman đã quan sát thấy hiệu ứng tương tự như vậy, nhưng nhỏ, trong hệ màng dạng hạt Ni – Si – O và Co – Si – O chế tạo bằng phương pháp phún xạ và cho rằng sự xuyên ngầm phụ thuộc spin có thể là nguyên nhân dẫn đến kết quả này [29, 30].
Tuy vậy, quan điểm chung trong thời kỳ này là sự xuyên ngầm phụ thuộc spin chỉ có thể xảy ra trong hệ màng dạng hạt nền kim loại. Từ những năm 1994 đến 1998, nhóm tác giả H. Ohnuma đã thực hiện nhiều nghiên cứu về GMR kiểu xuyên ngầm trong màng mỏng dạng hạt nền điện môi Co – Al – O. Ngoài sự phụ thuộc của GMR kiểu xuyên ngầm phụ thuộc vào điện trở suất, các nghiên cứu của họ còn cho thấy thêm mối liên hệ giữa điện trở suất và nhiệt độ có dạng lnρ ∞ T -1/2 [28], GMR tăng theo tỷ phần nguyên tử oxy và đạt cực đại với 8% tại nhiệt độ phòng và nồng độ nguyên tử O trong khoảng 25 – 30% [31].
Thêm vào đó, sự phụ thuộc nhiệt độ của GMR kiểu xuyên ngầm cũng đã được khảo sát kỹ trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1998, theo đó tại nhiệt độ bên dưới 50K tỷ số GMR gia tăng một cách đáng kể khi nhiệt độ giảm đi, cụ thể là tăng lên 16% tại 4,2K [32] trong màng mỏng Co – Al – O. Hoặc nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ ủ lên GMR kiểu xuyên ngầm trong màng mỏng Co – Al – O đã được thực hiện bởi nhóm tác giả J. Họ đã nghiên cứu đặc tính vận chuyển và GMR của màng mỏng dạng hạt Co46 – Al19 - O35 theo nhiệt độ ủ. Và được liên hệ với sự thay đổi về vi cấu trúc.
Các Vũ Thị Hoài Hương ITIMS 2007 - 11 - Luận văn tốt nghiệp mẫu đã được ủ nhiệt tại 300o C trong thời gian 10 phút, 60 phút và 360 phút để làm thay đổi vi cấu trúc. Sự phụ thuộc nhiệt độ của điện trở suất cho thấy mối liên hệ dạng lnρ ∞ T-1/2 đối với tất cả các mẫu được ủ. Năng lượng hoạt hóa của sự xuyên ngầm giảm khi tăng thời gian ủ. Biên độ của GMR ở vùng nhiệt độ thấp cũng giảm khi tăng thời gian ủ.
Cũng trong thời gian này, sự phụ thuộc một cách dị thường của MR vào nhiệt độ và điện áp trong màng dạng hạt Co – Al – O đã được tìm thấy bởi nhóm tác giả S. Mitani [33], và đã được giải thích bởi lý thuyết về xuyên ngầm bậc cao phụ thuộc spin.