Chương 1: Tổng quan 1.2 Giới hạn của đề tài 1. Giải thuật tiết kiệm năng lượng chỉ ứng dụng cho đối tượng chính ở đây là động cơ không đồng bộ 2. Các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra nhiều giải thuật điều khiển theo hướng tiết kiệm năng lượng khác nhau. Trong đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu giải thuật tối ưu hóa từ thông rotor mục đích để giảm tổn hao 3.
Việc khảo sát giải thuật điều khiển chỉ thực hiện mô phỏng trên phần mềm Matlab.5 Phương pháp nghiên cứu 1. Thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Tìm hiểu lý thuyết về động cơ không đồng bộ 3 pha 3. Tìm hiểu lý thuyết Matlab 4.
Tìm hiểu lý thuyết về điều khiển trượt 5. Tìm hiểu về phụ tải điện HVAC và khả năng tiết kiệm 6. Tìm hiểu các vấn đề về tổn hao và các phương pháp điều khiển theo hướng tối ưu năng lượng của động cơ không đồng bộ 7. Tìm hiểu nguyên lý định hướng tựa theo trường 8.
Thiết kế giải thuật điều khiển 9. Mô phỏng trên phần mềm Matlab 10. Đánh giá và so sánh kết quả mô phỏng. Nguyễn Thanh Phương 4 HVTH: Lê Việt Sô Luan van LVTN Chương 1: Tổng quan 1.6 Giá trị thực tiễn của đề tài 1.
Ứng dụng xây dựng mô hình vật lý và khảo sát hoạt động của bộ điều khiển 2. Ứng dụng thiết kế chi tiết thiết bị điều khiển động cơ điện ở chế độ tiết kiệm năng lượng 3. Tài liệu và kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để phục vụ các nghiên cứu ở mức độ cao hơn.7 Bố cục của luận văn Chương 2: Tổng quan phụ tải điện và khả năng tiết kiệm năng lượng Chương 3: Vấn đề về tổn hao và tổng quan các phương pháp điều khiển tối ưu năng lượng cho động cơ không đồng bộ. Chương 4: Nguyên lý điều khiển định hướng tựa theo trường và hướng nghiên cứu Chương 5: Thiết kế giải thuật, mô phỏng và kết quả của hệ thống điều khiển động cơ không đồng bộ ở chế độ tiết kiệm năng lượng Chương 6: Phương án khác tiết kiệm năng lượng cho động cơ không đồng bộ Chương 7: Kết luận CBHD: TS.
Nguyễn Thanh Phương 5 HVTH: Lê Việt Sô Luan van LVTN Chương 2: Tổng quan về phụ tải điện và khả năng TKNL Chương 2 TỔNG QUAN VỀ PHỤ TẢI ĐIỆN VÀ KHẢ NĂNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG (TKNL) 2.1 Thống kê về sử dụng các động cơ không đồng bộ (ĐCKĐB) Ngoài sự hiểu biết các ứng dụng đặc biệt thích hợp với điều khiến biến tốc, cũng cần đánh giá mức độ phổ biến của các ứng dụng này, ở đó dãi công suất động cơ mà họ chủ yếu sử dụng. Những hiểu biết này sẽ được dùng để định hướng nghiên cứu vào lĩnh vực có khả năng cao nhất cho TKNL. Những hiểu biết này có được qua sự phân tích dựa trên các dữ liệu thống kê sử dụng các động cơ điện ở Đan Mạch. Dữ liệu được thu thập bởi các cố vấn năng lượng trong khoảng thời gian 1988-1992 trong 1200 trường hợp.
Trong 1200 trường hợp này chiếm tổng năng lượng tiêu thụ là 900GWh, tương đương 750MWh/trường hợp. Tất nhiên, có thể bàn đến việc tập dữ liệu có đủ lớn để cho một kết quả đáng tin cậy. Chúng ta chỉ cần lưu ý rằng khi phân tích dữ liệu có những yếu tố ngẫu nhiên trong dữ liệu. Tuy nhiên, có thể dự đoán rằng có khả năng rút ra những kết luận chung từ các dữ liệu.
Các khảo sát về sự sử dụng các ĐCKĐB cũng đã được thực hiện ở các quốc gia khác chẳng hạn ở Mỹ và Thụy Điển. Nguyễn Thanh Phương 1 HVTH: Lê Việt Sô Luan van LVTN Chương 2: Tổng quan về phụ tải điện và khả năng TKNL Hình 2.1: Tiêu thụ điện năng ở Đan Mạch được chia theo các ứng dụng từ năm 1988-1992 Hình 2.1 minh họa sự tiêu thụ điện năng được chia theo các ứng dụng ở Đan Mạch. Biết rằng các động cơ điện được dùng cho cả các loại quạt, máy nén khí, máy bơm, tủ lạnh và cho sản xuất, biểu đồ tròn ở trên cho thấy khoảng 55.6% năng lượng điện tiêu thụ bởi các động cơ điện, và 35.8% tổng điện năng được dùng trong các ứng dụng sưởi ấm, quạt gió, điều hòa (HVAC – Heating, Ventilation, Air- Condition) liên quan đến các bộ thông gió, bộ nén khí, các máy bơm và các tủ lạnh. Không phải tất cả các động cơ điện đều là ĐCKĐB.
Một lượng nhỏ năng lượng được tiêu thụ bởi các loại động cơ khác, bao gồm các động cơ đồng bộ, các động cơ 1 chiều (DC – Direct Curent) và các động cơ bước. Dựa trên số liệu bán động cơ tại Mỹ năm 1989 được ước tính trong, 96% các động cơ công suất hàng ngựa là ĐCKĐB. Dù con số này có thể hơi khác tại Châu Âu, có thể chắc chắn rằng một lượng rất lớn công suất truyền động động cơ là dành cho ĐCKĐB. Có thể kết luận rằng các ĐCKĐB chiếm 53% (0.53) tổng điện năng tiêu thụ.
Chúng ta cũng khảo sát xem điện năng được tiêu thụ trong khoảng công suất nào. Trong phần phân tích này, tiêu điểm được đặt vào 4 ứng dụng HVAC: các máy thông gió, các máy bơm, các bộ nén khí và các tủ lạnh. Ta lưu ý đến tổng năng lượng mất mát trong mỗi năm trên hình 2. Ở công suất thấp, các bộ thông gió và thiết bị lạnh là các ứng dụng chiếm ưu thế, nhưng ở mức công suất cao, sự khác biệt trở nên nhỏ hơn.
Đáng chú ý là trong khi lượng tiêu thụ bởi sự thông gió giảm CBHD: TS. Nguyễn Thanh Phương 2 HVTH: Lê Việt Sô Luan van LVTN Chương 2: Tổng quan về phụ tải điện và khả năng TKNL xuống khi khoảng công suất tăng lên, năng lượng tiêu thụ của ba ứng dụng kia lại tiến đến cực đại ở khoảng công suất trung bình. Tổng năng lượng mất mát hàng năm, trên hình 2.3, hơi giảm với cả 4 ứng dụng khi tăng khoảng công suất, phản ánh thực tế là ở tầm công suất càng cao thì hiệu suất năng lượng càng cao. Tổng tổn hao trong khoảng trên 53KW không đáng kể khi so với các tổn hao ở công suất thấp.
Các khoảng công suất được chia thành các mức nhỏ (<10KW), trung bình (10- 1000KW), và lớn hơn (>1000KW).2: Tiêu thụ năng lượng ở động cơ không đồng bộ trong các ứng dụng thông gió, bơm, nén khí và lạnh trong 1 năm ở Đan Mạch (ngoài dân dụng) Kết luận đầu tiên có thể rút ra từ việc sử dụng năng lượng ở Đan Mạch là: bởi vì tổn hao ở tầm trên 53KW là nhỏ nên chúng ta không cần quan tâm đến việc giảm mất mát của động cơ trong khoảng công suất này. Do hầu hết tổn hao tập trung trong khoảng công suất từ 0-9KW nên đây là khoảng công suất đáng quan tâm nhất, nhưng khoảng công suất trung bình cũng không thể được xem nhẹ. Các ứng dụng thông gió và lạnh là các ứng dụng đáng quan tâm nhất, thông gió chủ yếu ở mức công suất thấp và ứng dụng lạnh ở mức công suất trung bình. Các máy nén khí và CBHD: TS.
Nguyễn Thanh Phương 3 HVTH: Lê Việt Sô Luan van LVTN Chương 2: Tổng quan về phụ tải điện và khả năng TKNL máy bơm không quan trọng ở tầm công suất thấp, nhưng trở nên đáng lưu tâm ở tầm công suất trung bình. Năng lượng sử dụng bên ngoài Đan Mạch chưa được khảo sát. Đề án SAVE của EU mang tên “Cái nhìn xuyên suốt về các động cơ và bộ lái sử dụng năng lượng hiệu quả” khảo sát sự sử dụng năng lượng trong các ứng dụng HVAC ở Châu Âu, và kết quả được công bố trong năm 2000. Có lẽ sự chia sẻ các bộ lái công suất trung bình và cao quan trọng hơn Châu Âu nói chung so với chỉ ở Đan Mạch.3: Tổn thất năng lượng của động cơ không đồng bộ trong các ứng dụng HVAC (không thuộc dân dụng) ở Đan Mạch trong 1 năm.2 Điều khiển hiệu quả năng lượng của các ứng dụng HVAC Các nhiệm vụ tiêu biểu trong việc lắp đặt HVAC là điều khiển áp suất, lưu lượng, nhiệt độ và mức chất lỏng và việc lựa chọn phương pháp điều khiển (PPĐK) nào được xác định bởi một số yếu tố, bao gồm chất lượng điều khiển, chi phí lắp đặt và hiệu suất năng lượng.
Một sự so sánh nhỏ giữa các PPĐK được trình bày ngay sau đây. Nguyễn Thanh Phương 4 HVTH: Lê Việt Sô Luan van LVTN Chương 2: Tổng quan về phụ tải điện và khả năng TKNL Điều khiển on/off. Được sử dụng khi chỉ có một phần trong toàn bộ sản phẩm là cần thiết trong một thời gian dài. Động cơ được bật khi thông số điều khiển vượt quá mức giới hạn trên.
Số lần khởi động và dừng ảnh hưởng đến sự lắp đặt cơ khí, có thể giảm đi bằng cách tăng kích thước vùng đệm, ví dụ như một bể nước và máy bơm. Nếu thiết bị hoạt động ở tải định mức khi động cơ được bật, điều khiển on/off sẽ cho hiệu suất năng lượng tốt, nhưng nếu ngược lại thì hiệu suất năng lượng sẽ giảm. Điều khiển từng bước (stepwise). một hệ thống điều khiển động cơ lớn được chia thành các bộ phận nhỏ, mỗi bộ phận sử dụng điều khiển on/off.
Mỗi động cơ sẽ được bật hay tắt tùy theo nhu cầu sản xuất. Ưu điểm của PPĐK này là các động cơ tiến trình hoạt động gần với tải định mức và với hiệu suất năng lượng tốt ở mọi thời điểm. Nhược điểm của nó là sự gia tăng chi phí lắp đặt và chỉ có khả năng điều khiển theo từng bước. Tuy nhiên, nó có thể kết hợp với sự thay đổi tốc độ trên một trong các động cơ.
Điều khiển quá trình cơ khí. được sử dụng trong những ứng dụng mà các thông số đầu ra của quá trình được điều khiển một cách liên tục và chất lượng của điều khiển on/off và điều khiển stepwise không đáp ứng được. Động cơ không đồng bộ được kết nối trực tiếp với lưới điện. Thông số đầu ra (ví dụ áp suất) được điều khiển bằng cơ khí, chẳng hạn bằng các van, van tiết lưu hay một nhánh hồi tiếp.
Nhược điểm chính của PPĐK này là điều khiển cơ khí sẽ tạo ra thêm những mất mát năng lượng không thể tránh khỏi khi không cần đầy tải. Nói một cách đơn giản, điều này giống như là chạy một chiếc xe hơi với công suất tối đa và điều khiển tốc độ bằng thắng xe. Điều khiển tốc độ thay đổi. Động cơ được nuôi bởi một bộ biến đổi (converter) điện tử công suất chỉ tiêu thụ năng lượng đủ dùng cho quá trình.
Kết quả của quá trình được điều khiển chỉ bằng cách thay đổi tốc độ.