CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE WEB CACHING LL. Giới thiệu web caching 1. Vấn để tải truy cập Internet và web caching. 111 để tải truy cập Internet Tiên thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET.
Thuật ngữ "Taternet" xuất hiện lẫn đầu vào khoảng năm 1974. Lúc đó mạng vẫn được goi là ARPANET. Năm 1984, ARPANET được chia ra thành hai phần: ARPANET và MILNET. Đến năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của Iaternet.
Giữa thập niên 1980 thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSENET. Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Intemet. Tới năm 1995, NSENET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển. Các dịch vụ trên.
Internet khéng ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỷ mới: thời kỳ thương mại điện tử trên Internet ‘Viet Nam là nước có tốc độ tăng trưởng số người đùng internet trong tốp 10 nước có tốc độ tăng trưởng số người đùng nhanh nhất khu vực châu Á. và cũng là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng lớn so với thế giới (giai đoạn 2000-2009), tăng 10,662. “Xu hướng tăng trưởng Internet Việt Nam Tính từ năm 2003, trung tầm TNTERNET Việt Nam (VNNIC) thuộc Bộ thông tin và truyền thông, đã nghiên cứu và thống kê số liệu phát triển Internet tai Viét Nam theo băng đưới đây. Thong ké sé liệu phát triển Internet tai Việt Nam tính đến 2014 Thang 05 Số người dùng.567 20B Í Băng thông cộng: 4761.
Những giải phap tang hiéu swat cia INTERNET Tang dung lwong truyé Tang dung lvong truyén dan là việc đầu tư, nâng cấp đung lượng truyền. Việc này sẽ triển khai đơn giản, nhanh nếu có sẵn các hệ thống truyền. dẫn tuy nhiên nó sẽ trở nên phức tạp nếu hệ thống truyền dẫn không có sẵn. 'Ngoài ra chỉ phí thuê kênh quốc tế cũng rất đất, việc vận hành khai thác các kênh truyền.
Sử dụng thiết bị quản lý băng thông: định mức độ băng thông cụ thể cho từng loại hình địch vụ. Việc sử dụng thiết bị quản lý băng thông nay có thé ấn định được mức độ băng thông cụ thể cho từng loại địch vụ tuy nhiên chỉ phí đầu tư hệ thống cũng không nh. Bên cạnh đó nếu băng thông không đủ lớn thì sẽ có những địch vụ bị änh hưởng đến chất lượng đo bị lấy băng thông để dành cho địch vụ tu tiên, như vậy không thỏa mãn được tối đa nhu cầu người sử dụng. Sữ dụng các hé théng Web Caching: "Ngày nay, World Wide Web (WWW) ngày cảng phat triển đi sâu vào mọi ngõ ngách cuộc sống hiện đại, nhu cầu của người sử đụng ngày cảng đòi hỏi nhiều hơn các về chất lượng địch vụ mã nô cung cấp để chạy nhiều loại hình ứng đụng khác nhau.
Bộ nhớ đệm Web caching là một giải pháp giảm thiểu các địch vụ và tải giao thông mạng nút cô chai, cải thiện thời gian đáp ứng yêu cầu và cải thiện các đối tượng Web có sẵn bằng cách lưu trữ một bản. sao cache lưu trữ những đối tượng có thể sẽ sử đụng tới trong tương lai. Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã được dành riêng đễ nâng cao hơn nữa hiệu suất của Web và cung cấp nhiều địch vụ khác nhau cho người sử dụng. Tuy nhiên, nhiều việc cần phải được thực hiện khi cung cấp nhiều cấp độ địch vụ trong proxy cache, nó đóng một vai trò quan trọng trong việc.
đây nhanh hiệu suất Web. Khi sử dụng giải pháp này, chúng ta sẽ tiết kiệm được băng thông WAN do việc đưa thông tin về gần với người sử đụng. Đám bảo và nâng cao chất lượng truy nhập vì thời gian đáp ứng dịch vụ nhanh. Tuy nhiên nếu hệ 'thống không đủ lớn cũng có thê gây đến việc thường xuyên bị quá tải, có thé ảnh hưởng tới hoạt động của địch vụ.
Do đặc thủ riêng của từng ISP mà mỗi ISP c6 cách lựa chọn giãi pháp nâng cao chất lượng mạng riêng của mình. Và ‘Web caching là một trong những giải pháp như y 1. Dinh nghĩa web Caching `Web caching (bộ nhớ đệm WEB) là việc lưu trữ bản sao của những tài ligu web sao cho gần với người đùng, cd về mặt chite ming trong web client hoặc những máy chủ bộ đệm lưu trữ riêng biệt. [1] Cơ chế hoạt động WebCaching sử đụng một bộ nguyên tắc để xác định thời điểm cung cấp các đối tượng (hay các tài liệu Web), tất nhiên là với điều.
kiện các ối tượng đô đã được lưu trong cache. Trường hợp các đối tượng được yêu cầu chưa được lưu sẵn trong cache thì cache server sẽ gửi các yêu. cầu đó đến sever gốc. Một số nguyên tắc được thiết lập trong các giao thức.1 va một số khác được thiết lập bởi những người quản trị cache: + Nếu phần tiêu đề của đối tượng cho cache biết không phải lưu đối tượng thì cache không lưu đối tượng đó.
Nếu biến logic xác nhận ( biến validator) không xuất hiện, phần lớn các cache sẽ đánh dấu đối tượng là không thể lưu (uncacheable). + Nếu đối tượng có yêu câu nhận thực hay bão mật, nó sẽ được lưu. + Một đối tượng được lưu được coi là tươi - “fresh” có nghĩa là có thể được gửi tới client mà không cần sự kiểm tra của server gốc. ~ Nô cô thời gian tồn tại (hoạt động theo đạng một loại bộ đếm) còn nằm trong khoảng thời gian fresh (chưa quá hạn) - Néu mét browser cache da timg hién thị đối tượng và đối tượng này đã được đánh dấu là đã kiếm tra trong một phiên trước đó - Nếu proxy cache mới xử lý nó gần đây và nô đã được sửa đôi trước.
đồ tương đối lâu, các đối tượng fresh được lấy trực tiếp từ cache mà không. cần kiểm tra với server gốc + Nếu một đối tượng được coi là cũ, server gốc sẽ được yêu cầu xác. nhận đối tượng hoặc báo cho cache rằng đối tượng đó vẫn còn giá trị sử đụng 1. Một số khái niệm về Caching.
‘Web caching giit lại một bin sao của các trang web ở những noi gần với người dùng cuối. Bộ đệm Caches được tìm thấy trong các trình duyệt và trong bat kỳ web trung gian giữa đại lý người đùng và máy chủ gốc. thường, một bộ đệm cache nằm ở client (tình duyệt cache), máy chủ proxy (proxy cache) va may chủ gốc (máy chủ cache) như thể hiện trong hình sau. Vị trí của 6 nho Web cache Browser cache Browser cache nim trong cic client.
Browser cache hay còn được gọi là bộ dém trinh duyét. Những trình duyệt như IE, Moziila, Firefox. chúng ta đùng để truy cập mạng, đều có sẵn một thư mục trong đó các nội đung đã được tải về sẽ được lưu đề sử đụng trong tương lại. Bộ nhớ cache này rất hữu.
ích, đặc biệt là khi người sử đụng nhấn vào nút "back" hoặc bấm vào một liên kết để xem một trang mà họ đã xem qua. Ngoài ra, nếu người đùng sử đụng các hình ảnh chuyển hướng như nhau trong cả trình duyệt, họ sẽ được phục vụ từ cache trình duyệt gằn như ngay lập tức. Proxy server cache Proxy server cache 1a may chi caching trung gian nhim giảm tải lưu. lượng trên đường truyền.
Web Proxy Cache (b§ dém Web Proxy) làm việc cùng nguyên tắc với Browser Cache nhưng ở quy mô lớn hơn. Nó được tìm thấy trong các máy chủ proxy giữa các máy client và máy chủ gốc. Né hoạt động trên nguyên tắc tương tự của trình đuyệt bộ nhớ cache, nhưng nó cô một quy mô lớn hơn nhiều. Không giống như các cache của trình đuyệt chỉ có một người sử đụng đuy nhất, các proxy phục vụ hàng trăm hoặc hàng ngàn người sử dụng theo cùng một cách.
Khi nhận được yêu cầu, các proxy server sé kiểm tra bộ nhớ cache của nó. Nếu đối tượng cô sẵn, nó sẽ gửi các đối tượng. cho khách hàng. Nếu đối tượng là không có, hoặc đã hết hạn, các máy chủ.
proxy sẽ ÿ èu cầu các đối tượng từ máy chủ gốc và gửi nó cho khách hàng. Các đối tượng sẽ được lưu trữ trong bộ nhớ cache của dia phương đại điện cho các yêu cầu trong tương lai. Sơ đồ biểu diễn Proxy server cache Origin server cache Ngay cả tại các máy chủ gốc, các trang web có thể được lưu trữ trong một bộ nhớ cache phía máy chủ để giảm sự cần thiết cho các tính toán đự. phòng hoặc cơ sở dữ liệu có khả năng tìm lại.
Do đó, việc tãi server c thể được giảm bớt nếu bộ nhớ cache máy chủ gốc cũng làm việc. Origin server cache (Gốc máy chủ cache) là máy chủ caching nằm trước các Web server (máy chủ web) nhằm giảm tải cho các web server. Nô thường được biết đến. a 1a “reverse proxy cache” Hinh 1.
Vi tri dat origin server cache Các bộ nhớ dém proxy được sử dụng rộng rãi bởi các quản trị mạng máy tính, các nhà cung cấp công nghệ, và các đoanh nghiệp để giảm sự chậm. trễ sử đụng và để giảm bớt tắc nghẽn Internet. Các ki trúc web Caching 1. Kiến trúc cache phân tầng và phân tán.
Kiến trúc phân tầng: mỗi một thành phần của mạng được xem như một hệ thống gồm nhiều tầng, và mỗi một tầng bao gồm nhiều chức năng truyền. Các tầng được chỗng lên nhau, số lượng và chức năng phụ thuộc vào các nhà sản xuất và thiết kế. Tuy nhiên quan điểm chung là trong mỗi ting co nhiều thực thể ( các tiến trình) thực hiện một số chức năng nhằm cung cấp một số địch vụ, thủ tục cho các thực thể tầng trên hoạt động. Kiến trúc phân tán là tổ hợp bao gồm cá máy tính độc lập với trình điễn.
hệ thống như một máy tính đơn trước người đùng. Do đồ có các đặc điểm cơ ‘ban 1a: tinh chia sé tài nguyên, tính mỡ, khả năng song song, tinh mỡ rộng, 'khã năng thứ lỗi, tính trong suốt. Kiến trúc phân tầng có thời gian kết nối nhỏ hơn kiến trúc phân tán. Bởi vì trong kiến trúc phân tầng các bản sao của một trang được lưu trữ một.
cách dư thừa tại các hệ thống cache ở các cấp độ mạng khác nhau dẫn tới giảm được thời gian kết nói. Ngược lại kiến trúc phân tán có thời gian truyền. nội đung của trang Web thấp hơn kiến trúc phân tầng, bởi vì trong kiến trúc phân tán lưu lượng Web được lưu chuyển trên các ting mang phía đưới và ít "bị nghên hơn. Mô hình mang Hình 1.
Mô hình phân 10 Chúng ta xây dung topology của mạng đưới đạng cấu trúc cây diy đủ.