Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan lĩnh vực nghiên cứu Năng lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, an ninh năng lượng và phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Ngày nay, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, các ngành công nghiệp sử dụng các dạng năng lượng tăng mạnh (phụ tải tăng). Cùng với sự biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp nên việc sử dụng năng lượng ngày càng tăng, nguồn năng lượng thiên nhiên khai thác tăng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng trên toàn cầu, nguồn năng lượng hóa thạch thì có hạn, con người khai thác đến một lúc nào đó sẽ hết, sẽ dần cạn kiệt, hơn nữa việc khai thác và sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch, thủy điện,…đã để lại cho con người những hậu quả về tác động môi trường là vô cùng lớn.
Cụ thể, khi sử dụng nguồn nguyên liệu này thải ra môi trường các loại khí độc làm ô nhiễm bầu khí quyển từ đó làm thay đổi khí hậu, tác động xấu đến cuộc sống của con người trong hiện nay và trong tương lai. Ngày nay, khi tiềm năng thủy điện được khai thác gần hết, còn nguyên liệu như than đá, dầu khí thì không có khả năng tái tạo và sẽ cạn kiệt trong tương lai, còn năng lượng nguyên tử chứa đựng nhiều yếu tố nguy hiểm do sự độc hại của nó thì việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới và sạch đã trở thành yêu cầu cấp thiết của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển và đã đạt được nhiều thành công nhất định như sự ra đời của các nhà máy phát điện dùng năng lượng gió, năng lượng mặt trời với công suất lên tới hàng ngàn MW. Tuy nhiên các nguồn năng lượng này tương đối phụ thuộc vào tự nhiên. Hòa cùng xu hướng phát triển về khoa học kỹ thuật trên thế giới, thì trong những năm gần đây hoạt động nghiên cứu năng lượng tái tạo nói chung và năng lượng mặt trời nói riêng ở nước ta triển khai khá mạnh mẽ bởi tính ưu việc của nó như luôn có sẵn, siêu sạch và gần như vô tận.
Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu và ứng dụng nguồn năng lượng vô tận này một cách tốt nhất và hiệu quả nhất. HVTH: Huỳnh Lâm Ngọc Tâm 1 do an Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Trương Đình Nhơn Chính vì vậy, việc tập trung chỉ đạo, đầu tư cho phát triển nguồn năng lượng luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng, đặc biệt là nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, gió, thủy điện. Hiện nay, năng lượng gió tạo ra trên thế giới hàng năm tăng 20% với sản lượng điện năng năm 2011 đạt 238.000 MW và tổng sản lượng năng lượng mặt trời trên toàn thế giới đã đạt 67.
Trên thực tế, hệ thống năng lượng mặt trời với công suất lớn có thể cung cấp tin cậy một phần năng lượng trên toàn thế giới. Trong khi đó ở Việt Nam, theo chiến lược phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, lượng năng lượng tái tạo và năng lượng mới sẽ đạt mức 5,6% tổng sản lượng điện quốc gia vào năm 2020 và tăng trưởng đến mức 9,4% vào năm 2030. Vì nguồn năng lượng này có nhiều ưu điểm như chi phí bảo dưỡng thấp, an toàn cho người sử dụng, không gây ô nhiễm môi trường và đặc biệt nguồn tài nguyên này vô cùng phong phú. Việt Nam có vị trí địa lý nằm gần đường xích đạo nên chúng ta có nguồn năng lượng tái tạo vô cùng lớn, đặc biệt năng lượng mặt trời có cường độ bức xạ tương đối cao, với bức xạ trung bình đạt 4 đến 5 kWh/m2 mỗi ngày.
Các khu vực có cường độ ánh sáng cao phải kể đến khu vực phía Nam có những khu vực cường độ ánh sáng lên đến 5 kWh/m2 thời gian nắng lên đến 7000 h/năm. Như vậy có thể nói ở khu vực phía Nam là nơi thuận lợi để khai thác tiềm năng năng lượng mặt trời. Các khu vực còn lại như ở phía Bắc do điều kiện khí hậu 4 mùa thay đổi do đó thời gian có năng ở khu vực này không cao, cường độ ánh sáng trung bình thấp, chỉ có một vài tháng hè có cường độ ánh sáng cao nhưng tính thời gian trung bình có nắng trong năm lại thấp do đó ở các khu vực này khó sử dụng pin mặt trời hơn, nếu sử dụng thì sản lượng điện thu được cũng không cao do đó tính hiệu quả kinh tế sẽ thấp. Kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển khá nhanh trong những năm gần đây.
Mức sống của người dân đặc biệt là khu đô thị ngày một nâng cao do đó nhu cầu sử dụng điện năng với chất lượng cao cũng tăng. Theo các tính toán dự báo thì các HVTH: Huỳnh Lâm Ngọc Tâm 2 do an Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Trương Đình Nhơn nguồn năng lượng truyền thống như dầu mỏ, than đá đang dần cạn kiệt, không có đủ khả năng cấp năng lượng cho việc phát triển kinh tế. Việt Nam đang mong muốn khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời và cũng đã có một số chủ trương chính sách cho việc này.
Cho đến nay đã có các hợp tác quốc tế và trợ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Việt Nam trong việc nghiên cứu khảo sát thị trường và ứng dụng năng lượng tái tạo trong cuộc sống: VBCF, IPP, GIZ, SECO, USAid, ADB, WB. Theo số liệu thống kê chính thức, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam là 7,03% năm trong vòng một thập kỷ vừa qua. Kết quả của sự phát triển này là GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng lên đáng kể và Việt Nam trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2011. Với việc phát triển kinh tế như vậy, nhu cầu về điện của Việt Nam tăng rất nhanh theo thời gian.
Dự báo nhu cầu điện của Việt Nam 1995 – 2030 (nguồn: N. Ha-Duong / Energy Policy 37 (2009) 1601–1613) Như vậy, nhu cầu năng lượng tăng 4 lần từ năm 2013 đến 2030 (N.Ha-Duong / Energy Policy 37 (2009) 1601–1613). Việt nam sẽ thiếu 70% năng lượng điện cho phát triển kinh tế, bắt buộc phải nhập khẩu điện. Việc thiếu điện ở Việt Nam đã xảy ra vào các năm 2005 – 2009, dự báo tình trạng thiếu điện sẽ gia tăng trong thời gian tới.
Năm 2010, điện năng sản xuất toàn hệ thống điện quốc gia HVTH: Huỳnh Lâm Ngọc Tâm 3 do an Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Trương Đình Nhơn đạt 100,071tỷ kWh bao gồm cả sản lượng điện bán cho Campuchia, sản lượng điện toàn quốc là 99,106tỷ kWh chưa tính sản lượng điện bị tiết giảm, tăng 14,37% so với năm 2009. Mức tăng trưởng này cao hơn tốc độ tăng trung bình các năm gần đây (1999 ~ 2009) chỉ là 13,84%. Về nhu cầu phụ tải năm 2010, công suất cực đại đạt cao nhất là 15.416MW tăng 11,64% so với năm 2009 (Tô Quốc Trụ - Trung tâm Tư vấn Năng lượng Việt Nam).
Theo các phân tích trên đây, thì việc phát triển máy phát điện năng lượng mặt trời là rất cần thiết khi khu vực thành phố sẽ có nguy cơ thiếu điện. Dự báo nhu cầu năng lượng điện 2015 - 2030 Dự báo nhu cầu năng Năm Thị phần năng lượng tái tạo (%) lượng điện (tỷ kWh) 2015 194 - 210 3,5 2020 330 - 362 4,5 2030 695 - 834 6,0 (Nguồn: Quyết định 1208/QĐ-TTg ngày 21/7/2011 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển điện quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến năm 2030) Ở các nước có nền công nghiệp điện mặt trời phát triển, Chính phủ có các chính sách hỗ trợ lớn để khuyến khích các hộ gia đình, các cơ quan hành chính sử dụng hệ thống điện mặt trời nối lưới. Hiện nay, chi phí đầu tư hệ thống điện mặt trời nối lưới ở các nước trên thế giới là vào khoảng 7$/W. Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1208/QD-TTg ngày 21/7/2011 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển điện quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến năm 2030 (Bảng 1.1), bao gồm các nội dung chính sau: - Nhu cầu điện trong được dự báo 194-210 tỷ kWh vào năm 2015, 330-362 tỷ kWh vào năm 2020 và 695-834 tỷ kWh vào năm 2030.
- Ưu tiên năng lượng tái tạo trong sản xuất điện, điện từ năng lượng tái tạo để thị phần từ 3,5% năm 2010 lên 4,5% trong năm 2020 và 6,0% trong năm 2030. - Đẩy nhanh chương trình điện khí hóa nông thôn. Nhắm mục tiêu gần 100% xã có điện trong năm 2020. HVTH: Huỳnh Lâm Ngọc Tâm 4 do an Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS.
Trương Đình Nhơn * Các sản lượng điện từ năng lượng tái tạo vào năm 2010, năm 2020 và năm 2030, tương ứng 3,5 tỷ, 15 tỷ và 46 tỷ kWh. Hiện nay, tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu tiềm năng và khả năng ứng dụng năng lượng mặt trời. Theo số liệu của Viện Khoa học Năng lượng - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, năng lượng bức xạ mặt trời trung bình toàn quốc là 4-5kWh/m²/ngày (Dương Duy Hoạt). Bản đồ phân bố cường độ bức xạ mặt trời của Việt Nam được trình bày tại (Hình 1.2) Tiềm năng năng lượng mặt trời tốt nhất ở vùng Tây Bắc và các vùng từ Thừa Thiên Huế trở vào Nam.
Vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai….và vùng Bắc Trung bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh….có năng lượng bức xạ mặt trời khá lớn, mật độ năng lượng bức xạ mặt trời biến đổi trong khoảng 3- 4kWh/m2/ngày và số giờ nắng trung bình cả năm trong khoảng 1800 đến 2100 giờ. Vùng Đông Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng có tiềm năng thấp nhất. Bản đồ cường độ bức xạ mặt trời ở Việt Nam (nguồn: Số liệu Khí tượng Thủy văn Trung ương) Bảng 1. Lượng tổng xạ bức xạ mặt trời trung bình ngày của các tháng trong năm ở một số địa phương của nước ta TT Địa phương Tổng xạ bức xạ mặt trời của các tháng trong năm (đơn vị: MJ/m².ngày) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 8,21 8,72 10,43 12,70 16,81 17,56 1 Cao Bằng 18,81 19,11 17,60 13,57 11,27 9,37 HVTH: Huỳnh Lâm Ngọc Tâm 5 do an Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS.