Đặt vấn đề nghiên cứu Vấn đề giao thông đô thị bao gồm các hiện tượng kẹt xe, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, lãng phí các nguồn lực,. luôn là căn bệnh ở hầu hết các đô thị lớn trên thể giới. Nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên, ở các nước phát triển, trước đây họ thường thực thi các chính sách như tăng cường xây dựng các tuyến đường mới, cải tạo, nâng cấp và mở rộng các tuyến đường hiện có nhằm nâng cao khả năng thông hành, đáp ứng nhu cầu giao thông. Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh rằng các van đề tồn tại trong giao thông đô thị sẽ không bao giờ kết thúc nếu chúng ta cứ chỉ dựa trên suy nghĩ là gia tăng khả năng cung ứng mà quên đi quản lý nhu cầu giao thông.
Quan niệm “chỉ chăm lo xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông ngày một gia tăng” đã trở nên lỗi thời, quá tốn kém, không thích hợp cho các mạng lưới giao thông ngày nay. Trên thực tế, đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông không phải là vô hạn, còn nhu cầu giao thông có thể điều chỉnh và quản lý.1 : Kẹt xe ở Ngã tư Hàng Xanh -1- LUẬN VĂN THẠC SY GVHD : TS. VAN HONG TAN Hiện nay có nhiều giải pháp được đưa ra để giảm bớt tinh trạng ùn tắt giao thông, một trong số đó là sử dụng mô phỏng giao thông. Mô phỏng là một công cụ hiệu quả cho tạo dựng và phân tích những tính chất, những trạng thái của các vấn đề phức tạp; sự khó khăn trong nghiên cứu các vấn đề này là ở chỗ nó có thể quá tốn kém hoặc nguy hiểm.
Giao thông có thể xem như một hệ thống phức tạp, vì thế mô phỏng là công cụ thích hợp cho việc phân tích hệ thống giao thông. Mô phỏng giao thông là một công cụ thường được sử dụng trong nghiên cứu các hệ thống giao thông. Một mô hình mô phỏng giao thông bao gồm nhiều mô hình phụ, mỗi mô hình phụ này quản lý một nhiệm vụ cụ thể trong mô phỏng. Những mô hình mô tả sự tương tác của xe với các phương tiện đi trước tại cùng một làn đường.
Mô hình mô phỏng giao thông được chứng minh là rất có ích trong việc phân tích tình trạng giao thông phức tạp nằm ngoài phạm vi của các phương pháp phân tích truyền thống. Các mô hình mô phỏng giao thông cũng được ứng dụng trong quá trình lập kế hoạch giao thông, bởi vì tính linh hoạt và khả thi của mô hình trong quá trình thử nghiệm lựa chọn các phương án thay thế khác nhau mà không tồn tại trong thực tế.2 Cơ sở hình thành đề tài : Theo thiết kế đô thị ban đầu của người Pháp vào năm 1860, thành phố Sài Gòn sẽ là nơi sinh sống cho 500. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng quy mô của thành phố lên đến 3 triệu dân. Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kê cả số lượng khách vãng lai là 10 triệu người, kết cấu đô thị đã quá tải.
Đến thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ có 23% khối lượng công tác quy hoạch 1/2000 được thực hiện. Quy hoạch cho hệ thống công trình ngầm vẫn chưa được thực hiện xong. Công tác xây quy họach và xây dựng đô thị mới vẫn mang nặng tư duy thời kỳ bao cấp. Theo thống kê của Sở Giao Thông vận Tải hiện toàn Thành phố có gần 100 giao lộ, tuyến đường trong tình trạng căng thang, có thể kẹt xe chỉ cần một sự cố, va quệt -2- LUẬN VĂN THẠC SY GVHD : TS.
VAN HONG TAN nhỏ. Mỗi ngày có khoảng 500,000 xe hai bánh và 60,000 xe bốn bánh từ ngoại thành và địa phương khác vào Thành phố, chưa kê lượng xe lưu thông của người dân sống tại khu vực nội thành. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dân, công chức dồn về trung tâm vào giờ cao điểm sáng và ra khỏi trung tâm vào budi chiều là do các đô thị vệ tỉnh, trung tâm hành chính, dịch vụ chưa rải đều trên địa bàn Thành phố. Người dân thành phố đang phải đối diện với việc nối đuôi nhau trên diện rộng, nhất là vào giờ cao điểm, tốc độ di chuyển của xe hai bánh vào giờ cao điểm chỉ còn khoảng 10 km/giờ, 6 tô § km/giờ.
Việc đầu tư cho xe buýt được xem như một giải pháp để giảm thiểu lưu lượng xe cá nhân, nhằm giảm ùn tắc giao thông. Tuy nhiên, sự không phù hợp giữa kích thước xe buýt và hệ thống giao thông chật hẹp hiện tại đã biến xe buýt trở thành tác nhân gia tăng nạn kẹt xe, một hình ảnh thường thấy trên các tuyến đường trong Thành phố là những dòng xe buýt không hành khách gây kẹt cứng giữa dòng người đi xe máy. Nhìn chung, các vấn đề trên có điêm chung là đều gây ra hiện tượng suy giảm làn xe khi lưu thông trên đường hay còn gọi hiện tượng thắt cô chai đối với dòng xe. Thực tế cho thay tại Thành phố Hồ Chí Minh, tốc độ phát triển đường không theo kịp quá trình đô thị hóa, quỹ đất dành cho giao thông quá thấp trong khi số phương tiện tham gia giao thông tăng đột biến hàng năm.
Hệ thống cầu, đường bộ trên địa bàn đang ngày càng bị quá tải. Bên cạnh đó, việc quy hoạch phân luồng tuyến cho các loại xe lưu thông lại không gắn với tình hình thực tế. Sở GTVT cho rằng: “Số lượng xe cá nhân vẫn tiếp tục tăng cao đã gây nên tình trạng quá tải của hệ thống giao thông đô thị, cộng với ý thức tham gia giao thông còn hạn chế nên đã phát sinh nhiều vụ ùn tắc và tai nạn giao thông”. Thời điểm 2005 2006 2007 23/06/2009 | 08/09/2011 Số xe máy | 2.1 : S6 liệu đăng ký xe máy tại thành phố Hồ Chí Minh.
-3- LUẬN VĂN THẠC SY GVHD : TS. VAN HONG TAN Chính sự tăng trưởng nhanh của dân số nhập cư và các phương tiện đã đặt lên hệ thống giao thông đô thị thành phố Hồ Chí Minh một áp lực rất lớn. Giao thông đô thị Việt Nam hiện nay đang là một vấn đề lớn. Có thể nói, giao thông ở Việt Nam, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh rất hỗn loạn.
Nhiều giải pháp đã được đưa ra, nhưng vẫn chưa thể giải quyết được thực trạng này. Vấn đề đặt ra là chúng ta thiếu một mô hình hệ thống mô phỏng hoạt động giao thông để giúp cho các nhà quản lý, các cơ quan chuyên môn có thê nghiên cứu, dự báo và đề xuất các biện pháp quy hoạch hạ tầng và điều phối hoạt động giao thông đô thị. Mô phỏng được định nghĩa như sự mô tả động một phân thế giới thực theo thời gian. Sự mô phỏng có được bằng cách xây dựng mô hình tin học.
Mô phỏng giao thông là một trong những dự án mô phỏng phức tạp nhất. Vấn đề chính ở đây là sự mô hình hóa hành vi của tài xế, mô hình hóa sự tương tác giữa họ và khả năng mô phỏng giao thông và thu được kết quả đáng tin cậy. VISSIM là phần mềm mô phỏng giao thông được xem là linh hoạt trong việc mô phỏng xe hai bánh, các tuyến buýt phức tạp cũng như các giao lộ có hay không có đẻn tín hiệu. VISSIM được dựa trên mô hình hành vi lái xe được phát triển bởi Wiedemamn (1974).
Trong mô hình này, các lái xe phản ứng theo phương dọc và ngang dựa trên tốc độ tương đối và khoảng cách của họ đến các xe lân cận và xe phía trước. Các phần mềm mô phỏng hiện nay chủ yếu mô phỏng cho xe bốn bánh, trong khi thành phần xe hai bánh ở nước ta lại chiếm đa số. Từ những yêu cầu cấp thiết trên và thiết nghĩ đây là một đề tài còn khá mới mẻ tại Việt Nam nên tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu xác định thông số mô hình xe theo xe áp dụng cho mô phỏng dòng xe gắn máy trên đường bằng phương pháp mô phỏng giao thông”. LUẬN VĂN THẠC SY GVHD : TS.
VAN HONG TAN 1. Nền tảng nghiên cứu Quy hoạch giao thông là một quá trình chuẩn bị những tiện ích và dịch vụ cho tất cả các phương tiện cho nhu cầu giao thông trong tương lai. Việc quy hoạch tập trung vào các vấn đề : + Nhu cầu giao thông trong tương lai; + Mối quan hệ giữa những hệ thống giao thông, các tiện ích, việc sử dụng đất, các hoạt động kinh tế xã hội; + Những ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, môi trường của phương án quy hoạch đề nghị; + Những yêu cầu về tài chính, đồng thuận của các cấp cơ quan và người đân đối với phương án đề nghị; Quy hoạch giao thông đang đóng vai trò ngày cảng quang trọng trong việc phát triển của vùng hay quốc gia. Một mô hình quy hoạch giao thông tốt sẽ giúp cho việc giao thông trở nên linh động và hiệu quả hơn, và các điều kiện kinh tế xã hội cũng được cải thiện.
ác lậ â Phương Xác lập Thụ thập hương | mục tiêu => số liệu | phap phan | [anno | Paver | Dự đoán & Thực thi Hình 1. Quy trình quy hoạch giao thông đô thị LUẬN VĂN THẠC SY GVHD : TS. VAN HONG TAN Xac Lap mục tiêu * Xác định mục đích, các việc cần làm, thời gian hoàn thành *Xác định các vân đê và các ràng buộc Thu thập sô liệu “Thu thập các dữ liệu cần thiết » Quan trác các dữ liệu K Phường pháp hân tích < + Phân tích số liệu + Phát triển mô hình phù hợp với hệ thống giao thông hiện tại và tương lai Dự đoán + Dự đoán tình hình tương lai ( Dân số, các hoạt động kinh tê xã hội,.) « Thiét lap phương <3 *Duara nhiéu phuong an dé so sanh Đánh giá *Trình bày các phương án - + Đánh giá các phương án ( Về kỹ thuật, kinh tê, môi trường, xã hội.) < Thực thi < “Dự trù kinh phí hoạt động *Thiệt kê chỉ tiết » Đâu thâu, tài chính Hình 1. Quy trình chỉ tiết quy hoạch giao thông đô thị LUẬN VĂN THẠC SY GVHD : TS.
VAN HONG TAN Có nhiều phương pháp cũng như các công cụ hỗ trợ trước đây đề giúp những kỹ sư quy hoạch giải quyết các vấn đề giao thống phức tạp. Các phương pháp thường dùng như cải thiện cơ sở hạ tầng phù hợp và kịp lúc với sự gia tăng của nhu cầu đi lại. Tuy nhiên các phương pháp này làm gia tăng chi phi đầu tư, xây dựng và bảo đưỡng, chỉ phí sử dụng đất và cần phải tính toán cần thận ảnh hưởng của phương pháp đã được lựa chọn trước khi thực hiện.