CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ĐIỆN GIÓ VÀ CÁC LOẠI MÁY PHÁT ĐIỆN TRONG HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ 1. Tốc độ và hướng gió 1. Sự phát triển của công nghệ tuabin điện gió 1. Nguyên tắc kỹ thuật cấu hình tuabin điện gió trục ngang dùng hợp số 1.
Các loại máy phát điện trong hệ thống năng lượng gió 1. Máy phát điện đồng bộ 1. Máy phát điện cảm ứng 1. Máy phát điện cảm ứng rotor lồng sóc 1.
Máy phát điện cảm ứng rotor dây quấn 2. Máy phát điện không đồng bộ nguồn kép (DFIG) 1. Các loại hệ thống chuyển đổi năng lượng gió 1. Hệ thống turbine gió tốc độ cố định 1.
Hệ thống turbine gió tốc độ thay đổi biển đổi toàn bộ công suất 1. Hệ thống turbine gió thay đổi biến đổi một phần công suất 6 1. Tổng quát [1] Hình 1.1: Các dạng năng lượng tái tạo 1. Gió Tia nắng mặt trời chiếu vào mặt đất thay đổi không đồng đều làm nhiệt độ trong bầu khí quyển, nước và không khí luôn khác nhau, trái đất luôn quay trong quỹ đạo xung quanh mặt trời và tự quay quanh trục nên tạo ra mùa, ngày, đêm.
Chính vì sự thay đổi nhiệt độ của khí quyển làm không khí chuyển động. Sự chuyển động của không khí được gọi là gió. Ngoài ra vào ban đêm, một nửa bề mặt của trái đất, bị che khuất không nhận được tia nắng mặt trời, nửa bề mặt kia là ban ngày nên cường độ tia nắng cao hơn, thêm vào đó nhiệt độ ở Bắc bán cầu, Nam bán cầu và đường xích đạo cũng như nhiệt độ ở biển và trên đất liền luôn khác nhau. 7 Từ sự quay quanh trục của trái đất nên không khí chuyển động xoáy theo những chiều khác nhau giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu làm nhiệt độ của khí quyển thay đổi phát sinh những vùng áp cao và áp thấp.
Tốc độ và hướng gió Đơn vị của tốc độ gió được tính theo kilomet trên giờ (km/h) hoặc mét trên giây (m/s) hoặc knot (kn: hải lý trên giờ) hoặc Mile trên giờ (mph) tại Mỹ. • 1 kn = 1 sm/h = 1,852 km/h = 0,514 m/s • 1 m/s = 3,6 km/h = 1,944 kn = 2,237 mph • 1 km/h = 0,540 kn = 0,278 m/s = 0,621 mph • 1 mph = 1,609344 km/h = 0,8690 kn = 0,447 m/s Hướng gió là hướng mà từ đó gió thổi tới điểm quan trắc. Hướng gió được biểu thị bằng phương vị đông, tây, nam, bắc hoặc theo góc là lấy hướng bắc làm mốc ở vị trí 00 hoặc 3600 và tính theo chiều kim đồng hồ. Như vậy hướng đông ứng với góc 900, hướng nam ứng với góc 1800, hướng tây ứng với góc 2700.
Ngoài ra, người ta còn dùng cấp gió để chỉ tốc độ gió như cấp gió Beaufort. (Francis Beaufort 1806) và được viết tắt là bft. Biểu đồ này đầu tiên được đưa ra để đánh giá ảnh hưởng của gió cho thuyền buồm và việc vận chuyển trên sông hồ, biển… 8 Hình 1.2: Bản đồ phân bố tốc độ gió Việt Nam ở độ cao 80 mét Bản đồ phân bố tốc độ gió Việt Nam ở độ cao 80 mét được thực hiện từ Bộ công thương, TrueWind Solutions LCC (Mỹ) và Ngân hàng thế giới năm 2010. Đây là tài liệu đánh giá tiềm năng gió tại Việt Nam.
Bản đồ phân bố tốc độ gió được thực hiện với phần mềm mô phỏng ‘MesoMap’. Kết quả mô phỏng được trình bày trên bản đồ hiển thị tốc độ gió trung bình theo màu với độ phân giải là 1 km. Tiêu chuẩn lớp gió cho tuabin điện gió. Uỷ ban Kỹ thuật Điện Quốc tế IEC (International Electrotechnical Commission) đưa ra những Tiêu chuẩn lớp gió của tuabincho những vùng có tiềm năng gió ít hoặc nhiều theo tốc độ gió trung bình và sự xáo động gió trong năm.1: Tiêu chuẩn Lớp gió cho tuabin điện gió Tiêu chuẩn Lớp gió cho tuabin điện gió Tiêu chuẩn I II III IV tuabintheo loại (vùng có (vùng có (vùng có (vùng có (IEC) gió mạnh) gió khá mạnh) gió trung bình) gió yếu) Tốc độ gió tiêu biểu 50 m/s 42,5 m/s 37,5 m/s 30 m/s của 50 năm v REF Tốc độgió trung 10 m/s 8,5 m/s 7,5 m/s 6 m/s bình trong năm v TB Tốc độgió cao nhất 70 m/s 59,5 m/s 52,5 m/s 42 m/s trong 50 năm 1.4v REF Tốc độgió cao nhất 52,5 m/s 44,6 m/s 39,4 m/s 31,5 m/s trong 1 năm 1.
Sự phát triển của công nghệ tuabin điện gió Công nghệ điện gió gồm hai loại: loại trục đứng Savonius, Darieus và loại trụng ngang. Tuabin điện gió trục đứng có hệ số công suất thấp nhưng vì cấu hình giản dị, dễ thiết kế và dễ sản xuất nên những loại tuabin điện gió này thường được sản xuất cho những nơi cần công suất khoảng từ 5 đến 20kW. Trước kia một số tuabin điện gió trục ngang được thiết kế có hướng đón gió từ phía sau (down wind rotor), phương pháp này có nhiều nhược điểm như dòng gió luôn bị xáo động do gió thổi vào thân trụ rồi mới đến cánh quạt. Từ khoảng năm 1995 tuabin điện gió được thiết kế với nguyên tắc đón gió từ phía sau không còn được sử dụng rộng rãi.
Phần lớn những tuabin điện gió hiện nay được thiết kế có hướng đón gió từ phía trước (up wind rotor).3: Tuabinđón gió từ phía sau và phía trước (down wind rotor) Cho đến nay, phần lớn những tuabin lắp đặt trên thế giới sử dụng hộp số để chuyển tốc độ số vòng quay của cánh quạt lên cao và truyền đến máy phát điện. Từ năm 1993 công nghiệp điện gió sử dụng máy phát điện nam châm vĩnh cửu được sản xuất và đưa vào thị trường. Nguyên tắc của loại máy phát điện này là sử dụng nam châm vĩnh cửu kết hợp nhiều cực trong một vòng khung và được gắn trực tiếp với hệ thống rotor. Công nghệ này trong những năm 90 không phát triển vì giá thành vật liệu nam châm vĩnh cửu từ đất hiếm rất cao.
Những năm vừa qua việc khai thác đất hiếm tăng nên công nghệ máy phát điện nam châm vĩnh cửu phát triển nhanh.4: Kích thước và công suất những lọai tuabin điện gió đã được sản xuất hàng loạt tính đến năm 2012 11 Vào đầu những năm 80, khái niệm công nghệ tuabin, được gọi là “Khái Niệm Đan Mạch”. Trong công nghệ này tuabin hoạt động với một tốc độ nhất định để giữ tần số điện phù hợp với lưới điện.5: Cánh đồng điện gió trên đất liền tại Aurich CHLB Đức, công suất mỗi trụ 6 –7,5MW Hình 1.6: Trang trại điện gió tại Mỹ 12 1. Nguyên tắc kỹ thuật cấu hình tuabin điện gió trục ngang dùng hợp số Hình 1.7: Cấu hình tuabin điện gió trục ngang dùng hợp số 1. Các loại máy phát điện trong hệ thống năng lượng gió [2][9] 1.
Máy phát điện đồng bộ Như chúng ta đã biết, tốc độ quay của máy phát điện đồng bộ được xác định theo số cực từ và tần số của lưới điện. Vì vậy, các cánh quạt tuabin và máy phát phải được nối với nhau thông qua hộp truyền động cơ khí để có thể quay với tốc độ đồng bộ. 13 Hệ thống năng lượng gió sử dụng máy phát đồng bộ có ưu điểm: khi kết nối với lưới điện, hệ thống này không yêu cầu cung cấp công suất phản kháng. Vì vậy chất lượng điện năng phát ra tốt hơn.
Tuy nhiên đối với máy phát đồng bộ, cần phải cung cấp điện một chiều cho mạch kích từ. Việc cung cấp dòng điện một chiều này sinh ra hai vấn đề bất lợi cho hệ thống: - Cần phải trang bị bộ biến đổi AC/DC để lấy dòng điện xoay chiều từ lưới điện đưa qua mạch chỉnh lưu cung cấp dòng điện một chiều cho mạch kích từ. - Sử dụng vành trượt trên rotor của máy phát để có thể đưa dòng điện một chiều từ mạch kích từ vào rotor, do đó công việc bảo dưỡng rất phức tạp. - Do máy phát điện làm việc với tốc độ đồng bộ, dẫn đến không phù hợp cho hệ thống năng lượng gió làm việc với tốc độ thay đổi theo tốc độ gió.8: Hệ thống tuabin gió cơ bản sử dụng máy phát điện đồng bộ 1.
Máy phát điện cảm ứng Hầu hết các máy phát điện được dùng trong hệ thống tuabin gió là máy phát cảm ứng. Có hai ứng dụng của máy điện cảm ứng trong hệ thống điện: sử dụng làm máy phát điện trong hệ thống tuabin gió, hoặc các động cơ bơm hay máy nén. Máy 14 điện cảm ứng nhận công suất phản kháng từ lưới điện. Trong các hệ thống kết hợp nhiều dạng năng lượng khác nhau, công suất phản kháng được cung cấp từ các máy phát đồng bộ hay máy phát Diesel.
Trong hệ thống năng lượng gió, tụ điện cố định được dùng để bù công suất phản kháng cho máy phát điện cảm ứng.9: Máy phát cảm ứng tự kích từ Trái ngược với máy phát đồng bộ, máy phát cảm ứng không quay với tốc độ cố định, vì vậy chúng thường được mô tả như máy phát không đồng bộ. Máy phát cảm ứng có thể làm việc như một động cơ hay một máy phát, tùy thuộc vào trục máy phát hay nhận năng lượng. Máy điện cảm ứng sẽ làm việc như một động cơ trong quá trình khởi động và như máy phát khi nhận được tốc độ gió định mức. Khi làm việc như một động cơ, rotor sẽ quay khá chậm so với tốc độ đồng bộ của từ trường, và động cơ cảm ứng sẽ nhận năng lượng để làm quay trục rotor.
Máy điện cảm ứng sẽ làm việc như một máy phát khi stator của chúng được nối với một nguồn điện áp có tần số ổn định, và rotor được quay với tốc độ lớn hơn tốc độ đồng bộ bằng động cơ sơ cấp. Vì vậy, độ trượt của máy phát có giá trị âm. Chế độ làm việc như máy phát của máy điện cảm ứng được ứng dụng trong hệ thống năng lượng gió với stator được nối với lưới điện và rotor được quay bởi tuabin gió. 15 Ưu điểm của máy phát cảm ứng là cấu tạo đơn giản, giá thành rẻ, không yêu cầu bảo dưỡng thường xuyên.10: Mạch tương đương của máy điện cảm ứng kết nối với lưới điện.
Có hai loại máy phát điện cảm ứng: rotor lồng sóc và rotor dây quấn. Máy phát điện cảm ứng rotor dây quấn thực hiện điều khiển đơn giản hơn máy phát điện cảm ứng rotor lồng sóc. Tốc độ rotor và đặc tính cơ có thể thay đổi bằng cách thay đổi điện trở rotor. Máy phát điện cảm ứng rotor lồng sóc Máy điện cảm ứng rotor lồng sóc (Squirrel Cage Induction Generator – SCIG) là một máy điện rất phổ biến do có cấu trúc đơn giản.
Dây quấn stator được nối với phụ tải hay nguồn kích từ.