Chương 1 Dựng tam giác trong danh sách của Wernick 1.1 Bài toán dựng hình, hệ tiên đề dựng hình 1.1 Hệ tiên đề và các phép dựng cơ bản Trong trường hợp tổng quát nhất, bài toán dựng hình được phát biểu như sau: Cho không gian E (Euclid, affine hay xạ ảnh với chiều n = 2, 3, ., n) và cho tập hợp hữu hạn các hình F1 , F2 , .Fk , tập hợp họ các hình (Φα )α∈I1 , (Φβ )β∈I1 ,. Yêu cầu dựng hình Φ thuộc họ hình K xác định, có quan hệ với các hình cho trước F1 , F2 , ., Fk bằng cách sử dụng hữu hạn hình trong họ (⋆). Thuật ngữ "dựng" được hiểu theo nghĩa cần phải xác định tất cả các tập hợp điểm tạo nên hình Φ. Nếu E = E2 (mặt phẳng) và (Φα )α∈I1 là tập hợp các đường thẳng (hoặc tia) của mặt phẳng này thì ta nói một trong các dụng cụ dựng hình là thước kẻ.
Nếu (Φβ )β∈I2 là tập hợp các đường tròn của mặt phẳng này thì ta nói dụng cụ dựng hình thứ hai là compa. Nghiệm của bài toán dựng hình là hình thỏa mãn tất cả các điều kiện của bài toán này. Bài 6 toán được giải nếu tìm được tất cả các nghiệm của nó. Như vậy, hình Φ cần tìm xem là dựng được nếu xác định được tập hợp các điểm tạo nên hình này.
Điều đó cũng được hiểu theo nghĩa của đại số: trong hình học nhiều chiều hình Φ xem là dựng được nếu tìm được hệ phương trình hoặc hệ bất phương trình, xác định hình Φ trong một hệ tọa độ nào đó. Ta cần liệt kê các tiên đề chung để từ đó mô tả lời giải của mọi bài toán dựng hình với bộ công cụ dựng hình chỉ ra trong (⋆). (T1 ) Mỗi hình cho trước F1 , F2 , ., Fk là dựng được. Điều đó có nghĩa là nếu hình Fi , i = 1, ., k cho trước thì ta coi là xác định được tất cả các điểm tạo nên Fi và mỗi điểm M trong không gian E, khẳng định được M ∈ Fi hay M ∈ / Fi.
Trong trường hợp dựng hình trên mặt phẳng 2 E thì T1 đòi hỏi mỗi hình Fi đã cho đều vẽ được. (T2 ) Nếu dựng được các hình F1 , F2 thì cũng dựng được hình F1 ∪ F2. (T3 ) Nếu dựng được các hình F1 , F2 và F1 ∩ F2 ̸= ∅ thì hình F1 ∩ F2 dựng được. (T4 ) Nếu F1 , F2 dựng được và F2 ⊂ F1 , F2 ̸= F1 thì hiệu F1 \ F2 dựng được.
(T5 ) Nếu hình F dựng được thì mọi điểm thuộc hình F đều dựng được. (T6 ) Nếu hình F dựng được và F ̸= E thì mọi điểm không thuộc F đều dựng được. Trong lý thuyết dựng hình chủ yếu chỉ dùng bộ dụng cụ compa và thước kẻ. Khi giải bài toán dựng hình mà không nói gì thêm thì ta ngầm hiểu đó là bài toán dựng hình bằng compa và thước kẻ.
Với bộ dụng cụ đó ta cần thêm 2 tiên đề: (T7 ) Nếu các điểm A, B dựng được (A ̸= B ) thì có thể dựng được tia [AB). Suy ra dựng được đường thẳng AB , đoạn thẳng AB ., (T8 ) được gọi là hệ tiên đề dựng hình bằng thước và compa. Các phép dựng hình cơ bản: (D1) Dựng tia [AB) nếu hai điểm A, B dựng được. 7 (D2) Dựng đoạn thẳng [AB] nếu hai điểm A, B dựng được.
(D3) Dựng đường thẳng (AB) nếu hai điểm A, B dựng được. (D4) Dựng đường tròn nếu dựng được tâm và đoạn thẳng bán kính. (D7) Dựng giao điểm của hai đường tròn nếu các giao điểm này tồn tại. (D8) Dựng điểm thuộc hình dựng được.
Bây giờ ta có thể nói Dựng hình Φ cần tìm được thực hiện nhờ compa và thước kẻ qua một tập hợp hữu hạn các phép dựng mà mỗi phép dựng là một trong các phép dựng cơ bản D1 , .2 Tiêu chuẩn dựng hình bằng thước và compa Ta sẽ sử dụng hai tiêu chuẩn dựng hình bằng thước và compa. Tùy theo từng bài toán ta có thể sử dụng 1 trong 2 tiêu chuẩn để kết luận bài toán dựng được hay không dựng được. Rõ ràng việc kết luận được bài toán thuộc loại "dựng được" hay thuộc loại "không dựng được" là việc làm rất có ý nghĩa. (1) Khi giải bài toán dựng hình bằng phương pháp đại số ta đưa việc dựng hình về dựng đoạn thẳng [XY ] mà độ dài biểu diễn qua biểu thức.
Lúc này xuất hiện vấn đề: Đoạn thẳng [XY ] có phải luôn luôn dựng được bằng thước và compa hay không? Để trả lời câu hỏi đó ta có định lý sau Định lý 1. Đoạn thẳng [XY ] có thể dựng được qua các đoạn thẳng đã biết bằng thước và compa khi và chỉ khi độ dài đoạn thẳng [XY ] biểu diễn được qua độ dài các đoạn thẳng đã biết và các số hữu tỷ nhờ một số hữu hạn các phép toán hữu tỷ và phép khai căn bậc hai. Điều kiện cần. Nếu độ dài [XY ] biểu diễn được qua độ dài các đoạn thẳng đã biết và các số hữu tỷ nhờ một số hữu hạn các phép 8 toán hữu tỷ và phép khai căn.
Ta thấy phép dựng đoạn thẳng [XY ] được quy về các phép dựng từ 1 đến 7 sau đây: 1) x = a + b. Do đó đoạn thẳng [XY ] có thể dựng được bằng thước và compa. Nếu đoạn thẳng [XY ] có thể dựng được bằng thước và compa theo các đoạn thẳng đã biết. Để dựng được [XY ] ta cần dựng được các điểm X, Y.
Lập mặt phẳng tọa độ Oxy và dựng các điểm A0 (a, 0), B0 (b, 0), ., l là các độ dài đã biết. Khi đó độ dài đoạn thẳng [XY ] là q x = (x2 − x1 )2 + (y2 − y1 )2 (1.1) Vì theo giả thiết các điểm X, Y có thể dựng được nhờ các đoạn thẳng đã biết nên các tọa độ x1 , y1 , x2 , y2 có thể tính được khi biết a, b,. Ta hãy giải thích các phép toán đại số nào sẽ được áp dụng khi tính các tọa độ này. Khi dựng bằng thước và compa, mỗi điểm X, Y nhận được là kết quả của một trong các phép dựng cơ bản D1 ,.
Trong các phép dựng này ta sử dụng đường thẳng và đường tròn. Theo D3 , đường thẳng dựng được nếu dựng được hai điểm của nó. Mỗi điểm trong chúng nhận được từ các phép dựng D5 − D7 hoặc được chọn theo D8 , D9. Nếu điểm chọn tùy ý thì ta có thể lấy tọa độ của nó biểu diễn qua a, b, ., l nhờ các phép toán hữu tỷ và phép khai căn bậc hai.
9 Theo D4 đường tròn dựng được nếu dựng được tâm và bán kính. Đoạn thẳng bán kính hoặc là một trong các đoạn thẳng đã biết hoặc nhận được từ các phép dựng D5 − D7 , còn tâm cũng dựng giống như trên. Xét tọa độ các điểm nhận được từ D5 đến D7. Nếu đường thẳng (AB) đi qua hai điểm dựng được là A(a1 , a2 ) và B(b1 , b2 ) thì phương trình của nó là x − a1 b1 − a1 = 0 ⇔ (b2 −a2 )x−(b1 −a1 )y−(a1 b2 −a2 b1 ) = 0.2) y − a2 b2 − a2 Tương tự đường thẳng P Q đi qua P (p1 , p2 ), Q(q1 , q2 ) dựng được có phương trình (q2 − p2 )x − (q1 − p1 )y − (p1 q2 − p2 q1 ) = 0.3) Nếu (AB) và (P Q) không song song (D5 ) thì hệ (1.3) có nghiệm duy nhất.
Khi đó tọa độ điểm M = AB ∩ P Q biểu diễn một cách hữu tỷ qua tọa độ các điểm đã dựng A, B , P , Q. Đường tròn C với tâm C(c1 , c2 ), bán kính r hoặc là một trong các đoạn cho trước hoặc là đoạnpthẳng có các đầu mút dựng được F (f1 , f2 ), G(g1 , g2 ) và khi đó r = (g1 − f1 )2 + (g2 − f2 )2 , C được xác định bởi phương trình (x − c1 )2 + (y − c2 )2 = r2 (1.4) Nếu (AB) và C cắt nhau thì tọa độ giao điểm tìm được sau khi giải hệ ((1. Ta chú ý rằng các tọa độ này biểu diễn qua các tọa độ đã biết nhờ các phép toán hữu tỷ và phép khai căn bậc hai. Ta cũng có kết luận như vậy đối với giao hai đường tròn.
Như vậy, tọa độ các điểm nhận được trong các phép dựng D5 − D7 biểu diễn qua tọa độ các điểm dựng được trước đó bởi các phép toán hữu tỷ và phép khai căn bậc hai. Theo điều kiện đoạn thẳng [XY ] có thể dựng được theo các đoạn thẳng đã biết nhờ thước kẻ và compa, cũng có nghĩa là tập hợp các phép dựng cơ bản được áp dụng là hữu hạn. Bởi vậy cuối cùng ta dẫn tới “các điểm dựng trước đó là A0 , B0 ,. Kết luận: nếu đoạn thẳng [XY ] dựng được bằng thước và compa theo các đoạn thẳng đã biết thì độ dài x của [XY ] biểu diễn được qua 10 các độ dài đã biết và các số hữu tỷ nhờ một số hữu hạn các phép toán hữu tỷ và các phép khai căn bậc hai.
(2) Một số kết quả từ lý thuyết Galois: Phần này tóm tắt những kết quả cần thiết về trường Galois áp dụng vào dựng hình. Lý thuyết Galois chi tiết có thể tham khảo trong tất cả các giáo trình hoặc sách mang tên “Galois”. Tất cả các số dựng được là trường con của trường R. √ Hơn nữa, nếu c dựng được và c > 0 thì c là dựng được.
Gọi G là tập tất cả các số dựng được. Cho a, b∈ G ta có a+b −a ∈ G, ngoài ra do (a, 0) và (b, 0) dựng được nên điểm Q = ;0 2 dựng được. Giao điểm của trục hoành và đường tròn tâm A, đi qua gốc (0; 0) là (a + b; 0), do đó a + b cũng dựng được. Để chứng minh ab dựng được ta chỉ cần xét trường hợp ab ̸= 0 và b ̸= 1.
Do (b − 1) dựng được nên điểm (0, b − 1) dựng được, do đó (a, b − 1) dựng được. Giao điểm của đường thẳng đi qua gốc (0, 0) và (a, b − 1) với trục hoành là điểm (ab, 0). Vậy (ab) dựng được. Cuối cùng ta chứng minh a−1 ∈ G nếu a ̸= 0.
Do a ∈ G ta có 1 − a ∈ G hay điểm (0, 1 − a) dựng được, do đó điểm (1, 1 − a) dựng được.