MỞ ĐẦU Rubella là bệnh truyền nhiễm do virus Rubella gây ra, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, phụ nữ mang thai dễ mắc bệnh và nếu mắc bệnh là nguy hiểm nhất. Bệnh có tính lây truyền cao và có thể gây thành dịch lớn, thường xuất hiện vào mùa đông xuân.Với những phụ nữ mang thai nhiễm rubella nguyên phát ở những tuần đầu thai nghén, thì virus rubella có thể vào thai nhi và gây ra hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ nhỏ. Nếu phụ nữ bị nhiễm virus rubella ở đầu thai kỳ đặc biệt trong 3 tháng đầu thì tác động xsấu đến thai nhi càng nặng nề. Theo Miller và cộng sự, tỷ lệ ảnh hưởng đến thai nhi dưới 12 tuần là 80%, từ 13- 14 tuần là 54%, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối là 25%, tỷ lệ ảnh hưởng chung lên thai nhi là 9%.
Hội chứng rubella bẩm sinh có thể bao gồm một1 hoặc nhiều triệu chứng: khiếm khuyết ở mắt, các dị tật về tim, động mạch, khiếm khuyết về hệ thống thần kinh, ban xuất huyết, bệnh về xương Tại Việt Nam, bệnh Rubella lưu hành theo chu kỳ và gây dịch trên quy mô toàn quốc vào năm 2011.491 trường hợp mắc trong 5 năm, tương đương tỷ lệ mắc trung bình hàng năm trong giai đoạn này là 2,4/100. Bệnh Rubella mắc cao nhất từ tháng 2 đến tháng 4 và đạt đỉnh vào tháng 3. Khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ, Đông Bắc và Tây Bắc là vùng có tỷ lệ mắc cao nhất.000 dân) và nhóm 15-19 tuổi (32,4/100.000 dân) là nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất, chiếm 53,6% tổng số trường hợp mắc. Theo thống kê, 91,8% số trường hợp mắc bệnh chưa được tiêm vắc xin Rubella hoặc không rõ tiền sử tiêm chủng [1].
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải triển khai vắc xin Rubella trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho nhóm trẻ em, thanh niên và nữ tuổi sinh đẻ để khống chế bệnh Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh. Ngày 18 tháng 10 năm 2013, Bộ Y Tế Việt Nam đã ký quyết định số 4471/QĐ-BYT phê duyệt Dự Án Hỗ trợ kỹ thuật “Tăng cường năng lực sản xuất vắc xin phối hợp Sởi-Rubella” với nguồn vốn do Chính phủ Nhật Bản tài trợ. Theo các nội dung của Dự án, Công ty KDSV (Kitasato Daiichi Sankyo Vắc xin- Nhật Bản) là đơn vị chuyển giao hoàn 1 Luận văn thạc sĩ Khoa học Phạm Thành Trường – CB160060 toàn công nghệ sản xuất vắc xin phối hợp Sởi-Rubella và vắc xin rubella liều đơn cho Trung tâm nghiên cứu Sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm Y tế (Polyvac). Vắc xin phối hợp Sởi-Rubella và vắc xin rubella liều đơn được sản xuất trên chính nhà xưởng và dây chuyền công nghệ đã được chuyên gia Nhật Bản thiết kế, lắp đặt và xây dựng, tương tự nhà xưởng sản xuất của KDSV.
Nhà xưởng đã được Bộ Y Tế cấp phép đạt tiêu chuẩn WHO-GMP từ năm 2008 cho dây chuyền sản xuất vắc xin Sởi MVVAC và vào tháng 8/2016, Bộ Y tế cấp chứng nhận GMP cho dây chuyền sản xuất vắc xin phối hợp Sởi-Rubella. Để có một vắc xin an toàn và hiệu quả cần thiết có quá trình kiểm định vắc xin theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới (WHO). Một số các thử nghiệm quan trọng như xác định hiệu giá, nhận dạng, xác định tác nhân ngoại lai sử dụng kháng huyết thanh rubella với lượng lớn trong khi nguồn cung cấp kháng huyết thanh trên thế giới rất hạn chế và giá thành khá cao. Nhằm chủ động về nguồn kháng huyết thanh đồng thời giảm giá thành trong sản xuất vắc xin, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu sản xuất kháng huyết thanh rubella sử dụng cho kiểm định vắc xin tại Việt Nam” với mục tiêu: − Sản xuất kháng huyết thanh đặc hiệu với virus rubella − Ứng dụng kháng huyết thanh đặc hiệu virus rubella cho kiểm định vắc xin bán thành phẩm rubella, vắc xin phối hợp Sởi – Rubella thành phẩm tại Việt Nam 2 Luận văn thạc sĩ Khoa học Phạm Thành Trường – CB160060 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm sinh học, miễn dịch của virus rubella Virus rubella gây bệnh “Sởi Đức”. Bệnh đặc trưng bởi sốt, nổi ban, và tổn thương hạch bạch huyết. Bệnh ảnh hưởng chủ yếu đến trẻ em và thiếu niên và những người trẻ tuổi. Phụ nữ mang thai trong những tháng đầu nếu bị nhiễm rubella, virus có thể qua rau thai truyền sang thai nhi và gây nên bệnh rubella bẩm sinh.
Bệnh thường nhẹ, tự khỏi. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nhưng phòng bệnh bằng vắc xin rất có hiệu quả [23], [31], [39]. Cấu trúc virus Rubella Virus rubella là thành viên duy nhất của nhóm Rubivirus, thuộc họ Togaviridae. Cho đến nay, mới chỉ có một kiểu gen được xác định.
Virus rubella khác biệt về mặt huyết thanh học với các virus khác thuộc họ Togaviridae, bao gồm cả nhóm Alphavirus genus [23] , Alphaviruses và virus rubella có nhiều cấu trúc giống nhau về mặt di truyền cũng như cách nhân lên trong tế bào chủ. Alphaviruses lan truyền từ côn trùng tiết túc sang người, còn virus rubella lan truyền giữa người và người. o Virus hình cầu, chứa một sợi ARNRNA. Hạt virus đa dạng, đường kính 50- 100nm (TB 58nm), Lõi capsid lipoprotein 30nm, hình khối đa diện đối xứng, vỏ có gai glycoprotein E1 và E2 (5-8nm).RNA sợi đơn, cực dương, 10kb, tỷ lệ GC 69,5%.
o RNA có 2 khung đọc mở (ORF) như Alphavirus. Đầu 5’ gồm ORF 6345 nu. Đầu 3’ gồm ORF 3189 nu. Hạt virus chứa 3 cấu trúc polypeptide: 2 glycoprotein màng E1, E2 và một protein capsid (protein C) gắn với ARNRNA không bị glycosyl hoá.
Protein vỏ bao E1 có khả năng gây ngưng kết hồng cầu và tạo kháng thể trung hoà hạt virus. E2 có 3 Luận văn thạc sĩ Khoa học Phạm Thành Trường – CB160060 hai dạng E2a và E2b. Sự khác nhau giữa các chủng virus rubella là do sự khác biệt về mặt kháng nguyên của E2 [17], [18], [23], [31], [36]. o Protein C: 293-300 aa, 33kD, không glycosyl hóa.
o Protein E1: 282 aa, 58kD, có 3 vị trí glycosyl hóa liên kết với nhau. o Protein E2: 481 aa, có 4 vị trí glycosyl hóa, liên kết với N, là màng vận chuyển đến gần điểm tận cùng của protein C. o Các protein đều được tổng hợp trong tế bào chất Formatted: Font: Times New Roman Hình 1. Hình ảnh cấu trúc virus rubella [26] Formatted: Font color: Auto Formatted: Font color: Auto 1.
Tính chất kháng nguyên virus Formatted: Font color: Auto Field Code Changed Chỉ có 1 tuýp kháng nguyên : Formatted: Font: Times New Roman, Font color: Auto o Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin) o Kháng nguyên kết hợp bổ thể (CF) o Kháng nguyên trung hòa: epitope chứa hoạt tính trung hòa nằm trên protein C (aa 51-105, ít nhất 2 epitope), E1 (aa 214-285) và E2 (aa 1-26). o Vùng phản ứng miễn dịch : C (aa 9-29, 255-280), E1 (aa 273-284, 358- 377, 402-422), E2 (aa 54-74) Khi nhiễm virus Rubella, xuất hiện kháng thể kháng 3 protein cấu trúc, trội nhất là kháng thể kháng E1. 4 Luận văn thạc sĩ Khoa học Phạm Thành Trường – CB160060 1. Tính chất lý hóa của virus Rubella o Virus tồn tại ở 40C bền vững trên 7 ngày, 37 0C bị bất hoạt 0,1-0,4 log10 TCID50/mL/giờ, ở 56 0C bị bất hoạt 1,5-3,5 log10 TCID50/mL/giờ, ở -700C virus bền vững trong nhiều năm.
o Virus Rubella thích hợp ở pH 6,0-8,1; kém bền ở pH quá kiềm hoặc quá acid. o Mất hoạt tính nhanh bởi tia cực tím (40giây 1350w/cm2), sóng siêu âm (bền trong 9 phút). Bất hoạt vỏ lipid bằng chất tẩy và dung môi hòa tan lipid. Formatted: Font: Times New Roman Hình 1.
Cấu trúc virus Rubella dưới kính hiển vi điện tử [10] Formatted: Font color: Auto Formatted: Font color: Auto 1. Đặc điểm quá trình phát triển của virus Formatted: Font color: Auto 1. Quá trình bám dính và xâm nhập Field Code Changed Formatted: Font: Times New Roman, Font color: Auto 5 Luận văn thạc sĩ Khoa học Phạm Thành Trường – CB160060 Sự bám dính của virus rubella lên các thụ thể của tế bào liên quan đến sự bám của các phân tử glycoprotein E2 và hoặc E1. Mặc dù các thụ thể của tế bào đặc hiệu đối với rubella hoặc là các vị trí gắn của thụ thể trên 1 hoặc 2 protein nói trên vẫn chưa được xác định một cách chính xác.
Cả hai thụ thể tế bào và các vị trí gắn thụ thể trên glycoprotein đã được xác định đối với các alphaviruses. Sự xâm nhập của RNA virus vào nội bào liên quan đến sự thay đổi cấu hình của protein E1 hoặc E2, virus rubella bám dính màng tế bào làm lộ petide trong protein E1 và cho phép sự hòa màng của virus với màng tế bào vật chủ dẫn đến sự xâm nhập. Vì vỏ nhân được bám vào màng của hạt virus qua đầu tận C của các protein C, do đó, người ta chưa rõ liệu có phải việc hòa màng và cởi bỏ lớp vỏ nhân là các quá trình riêng biệt [42] 1. Sự nhân lên của bộ gen virus Sự nhân lên của bộ gen virus rubella bắt đầu bằng việc tổng hợp các polyprotein không cấu trúc.
Người ta cho rằng, các polyprotein này nhận ra một vùng khởi đầu bộ gen và tổng hợp nên một ARNRNA sợi âm. ARNRNA này được cho là hình thành một cấu trúc sợi đôi làm trung gian cùng với ARNRNA bộ gen. ARNRNA sợi âm của bộ gen sau đó được dùng làm khuôn mẫu cho việc tổng hợp cả ARNRNA của bộ gen [31]. Sự lắp ráp của các hạt virus Đối với rubella, quá trình nảy chồi dường như không có những cách thức riêng rẽ đối với glycoprotein và nucleocapsid, có thể vì protein C được bao bởi màng qua trình tự tín hiệu E2.
Ba protein cấu trúc của virus rubella được dịch mã từ ARNRNA ngoài bộ gen thành các polyprotein. Polyprotein này sau đó được cắt thành các protein riêng lẻ nhờ enzym signalase [30]. Các protein E1 và E2 qua quá trình glycosyl hóa trực tiếp. Tại đó, vị trí glycosyl hóa vùng N xảy ra ở trong lưới nội sinh chất có hạt.
Vùng glycosyl hóa tại vị trí O của protein E2 chưa được xác định nhưng protein E2 có chứa các trình tự để giúp protein khu trú tại bộ Golgi. Sự kết hợp của protein E1 với E2 cần cho quá trình E1 thoát khỏi lưới nội sinh chất có 6 Luận văn thạc sĩ Khoa học Phạm Thành Trường – CB160060 hạt. Protein C phải kết hợp với ARNRNA của virus tại một thời điểm nào đó trong quá trình virus lắp ráp. Sự lắp ráp hoặc cởi vỏ của các nucleoprotein hạt virus và quá trình virus nhân lên được điều hòa bằng quá trình phosphoryl và loại phosphoryl hóa của protein C, sự phosphoryl hóa ức chế việc hình thành nucleocapsid [43].