chương 1, luận văn đã trình bày lý thuyết tổng quan về hệ thống nhận diện người, trong đó tập trung vào trường hợp nhận diện người đi đường. Chương này cũng đã trình bày những khó khăn, thách thức trong bài toán nhận diện, cũng như những kết quả nghiên cứu mới trên thế giới trong việc giải quyết bài toán này. Trong chương 2, luận văn sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của một số vấn đề liên quan trực tiếp tới phương pháp nhận diện người được sử dụng trong luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm trong xử lý ảnh có liên quan tới phương pháp nhận diện người đi đường, sẽ được trình bày trong chương 3.1 Gradient của ảnh và đặc trưng biên độ gradient 2.1 Khái niệm gradient trong xử lý ảnh số Trong lĩnh vực ảnh số, gradient là một khái niệm cơ bản trong lĩnh vực xử lý ảnh số.
Theo cách hiểu đơn giản, gradient của một ảnh là sự thay đổi có hướng của cường độ sáng hoặc màu sắc trong ảnh. Gradient ảnh thường được dùng để trích xuất thông tin từ ảnh. Gradient ảnh là phép biến đổi nền tảng trong rất nhiều phương pháp xử lý ảnh số. Một số ví dụ về ứng dụng của gradient trong xử lý ảnh như: phương pháp phát hiện đường viền Canny [3], đặc trưng HOG [5] (mục 2.2), … Định nghĩa: Gradient là một vector có các thành phần biểu thị tốc độ thay đổi mức xám của điểm ảnh (pixel) theo 2 hướng x, y trong bối cảnh xử lý ảnh hai chiều.1 minh họa ví dụ về 2 dạng của gradient trong hai bức ảnh mức xám khác nhau.
Trong bức ảnh đầu tiên, các giá trị cao dần về tâm, gradient có hướng về tâm. Trong ảnh thứ hai, các giá trị cao dần từ phải qua trái và gradient cũng có hướng từ phải qua trái. 1 : Hai dạng của gradient. Mũi tên chỉ hướng gradient.
Vùng màu tối thể hiện giá trị cao hơn 19 Các thành phần theo hai hướng của gradient được tính dựa trên công thức đạo hàm bậc nhất như sau: (2.2) Trong đó dx, dy là khoảng cách giữa 2 điểm kế cận nhau theo hướng x, y tương ứng. Đây là phương pháp dựa theo đạo hàm bậc nhất theo hướng x, y. Thực tế trong xử lý ảnh ta thường chọn dx = dy = 1 (tính lân cận tức là điểm ngay cạnh nó, nên có thể coi khoảng cách của chúng là 1) tại điểm có tọa độ là (i, j), thay vào công thức trên ta được: (2.4) Theo định nghĩa về gradient, nếu áp dụng các công thức từ (2.4) vào xử lý ảnh, quá trình tính toán sẽ phức tạp. Để đơn giản hóa việc tính toán mà không làm mất đi tính chất của gradient, người ta sử dụng kỹ thuật gradient dùng cặp mặt nạ Hx, Hy trực giao (theo 2 hướng vuông góc).2 minh họa một ảnh mức xám gốc và ảnh gradient tương ứng theo chiều ngang và chiều dọc.
2 : Ảnh mức xám và ảnh gradient tương ứng theo chiều x và chiều y Nếu định nghĩa , là gradient theo hai hướng x, y tương ứng tại điểm có tọa độ (m, n), thì biên độ (độ lớn) gradient tại điểm (m, n) và hướng góc của gradient được tính theo công thức (2.6) Để giảm độ phức tạp tính toán, được tính gần đúng như sau: (2.7) Công việc tiếp theo là lựa chọn cặp mặt nạ Hx và Hy sẽ sử dụng và phải tính , thông qua cặp mặt nạ đó. Các cặp mặt nạ này còn được gọi là toán tử gradient. Sau đây chúng ta xét một số toán tử gradient tiêu biểu thường được sử dụng. Toán tử Robert: toán tử Robert [25] sử dụng cặp mặt nạ sau để tính toán gradient tại một điểm: Toán tử Robert là một toán tử đơn giản và có tốc độ tính toán nhanh.3 (a) ví dụ một bức ảnh mức xám đầu vào và trong hình 2.2(b) là ảnh độ lớn gradient tương ứng sử dụng toán tử Robert.
3 : Ảnh độ lớn gradient sử dụng các toán tử khác nhau 21 (a): Ảnh mức xám đầu vào. (b) Ảnh độ lớn gradient sử dụng toán tử Robert. (c) Ảnh độ lớn gradient sử dụng toán tử Sobel. (d) Ảnh độ lớn gradient sử dụng toán tử Prewitt Toán tử Sobel: toán tử Sobel [29], hay thường gọi là mặt nạ Sobel hoặc toán tử Sobel – Feldman, là một toán tử được sử dụng rất rộng rãi và được ứng dụng nhiều trong việc phát hiện đường biên.
Toán tử Sobel lần đầu được giới thiệu vào năm 1968 [29], với các mặt nạ tương tự toán tử Robert nhưng có cấu hình khác biệt. Toán tử Sobel sử dụng các mặt nạ kích thước 3x3 như sau: Hình 2.3(c) là ảnh gradient sử dụng toán tử Sobel của ảnh đầu vào trong hình 2. Toán tử Prewitt: toán tử Prewitt [23] cũng là một toán tử được sử dụng phổ biến và có cấu trúc tương tự toán tử Sobel, tuy nhiên các thông số mặt nạ có chút khác biệt: Hình 2.3(d) là ảnh gradient sử dụng toán tử Prewitt của ảnh đầu vào trong hình 2.2 Ứng dụng của đặc trưng gradient trong xử lý ảnh số Một trong những ứng dụng nổi bật của gradient trong xử lý ảnh số là việc phát hiện và tách biên ảnh. Biên ảnh là những điểm mà tại đó hàm độ sáng của ảnh liên tục có bước nhảy hoặc biến thiên nhanh.
Cơ sở toán học của việc tách biên là phép toán đạo hàm, thực tế trong xử lý ảnh chính là phép tính gradient. Tập hợp các điểm biên tạo thành đường biên (edge) hay đường bao (boundary) của đối tượng trong ảnh. Ý nghĩa của đường biên trong xử lý ảnh: đường biên là một loại đặc trưng cục bộ tiêu biểu trong phân tích và nhận dạng ảnh. Người ta còn dùng đường biên để phân vùng ảnh (segmentation).
Do đó, gradient cũng được ứng dụng rất nhiều trong các phương pháp phân tích và nhận dạng ảnh. Phép tính gradient thường được sử dụng tại các bước trích xuất đặc trưng ảnh, đóng góp trong việc xây dựng nên vector đặc tả của đối tượng ảnh.4 minh họa kết quả tính toán độ lớn và hướng gradient của một bức ảnh đầu vào chứa một đối tượng người.4(a) là ảnh mức xám đầu vào, hình 2.4(b) là ảnh độ lớn (bên phải) và hướng (bên trái) của gradient, sử dụng mặt nạ Sobel. 4 : Một ví dụ về gradient cho ảnh đối tượng người (a) ảnh mức xám đầu vào. (b) ảnh gradient độ lớn (bên trái) và hướng (bên phải) Trong phương pháp nhận diện người sử dụng đặc trưng HOG (histogram of oriented gradient), sẽ được trình bày trong mục 2.2, việc tính toán gradient đóng một vai trò quan trọng trong bước trích xuất đặc trưng của đối tượng trong ảnh.
Ngoài ứng dụng trong việc phát hiện đường biên và đặc trưng ảnh, gradient còn có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực chỉnh sửa ảnh. Một số ứng dụng như cắt ghép ảnh, ghép nối ảnh, xóa chi tiết thừa, … đều ứng dụng gradient vào trong các bước xử lý của mình để nâng cao chất lượng.2 Đặc trưng HOG Như đã đề cập trong mục 1.3, phương pháp nhận diện người dựa trên đặc trưng HOG (Histogram of Oriented Gradient) [4, 5] là một phương pháp được sử dụng phổ biến, được coi là một trong những phương pháp tiêu biểu và quan trọng trong các nghiên cứu về hệ thống nhận diện người. Đặc trưng HOG được đề xuất bởi N. Dalal, et al., trong công trình nghiên cứu công bố năm 2005 [5].
Kể từ khi được đề xuất vào năm 2005, HOG đã được áp dụng rộng rãi và liên tục nghiên cứu mở rộng. 23 Như trong tên gọi của phương pháp, gradient được sử dụng như là một phần tạo nên đặc trưng của đối tượng bằng cách dùng gradient để xác định đường viền, Giả thiết chính của phương pháp là đặc điểm, hình dáng cục bộ của đối tượng có thể được biểu diễn tốt thông qua phân phối của cường độ hay hướng của viền, ngay cả khi không cần biết chính xác vị trí của đường viền. Đặc trưng HOG được tính toán tại các vùng cục bộ hình chữ nhật mà ở đó mỗi điểm ảnh ở đường viền sẽ được tính cho một bin trong histogram của gradient dựa theo hướng góc của viền. Biên độ của viền cũng được sử dụng để tính trọng số cho bin tương ứng trong histogram.
Đặc trưng HOG có thể được phân loại thành hai loại: HOG tĩnh (static HOG) và HOG chuyển động (motion HOG). Sự khác nhau giữa hai loại nằm ở chỗ đặc trưng HOG tĩnh được tính trên ảnh, trong khi đặc trưng HOG động được tính trên video và trên luồng quang học. Các bước thực hiện tính toán đặc trưng HOG cho ảnh gồm (hình 2.5): Chuẩn hóa gamma và màu cho ảnh đầu vào Tính gradient trên từng điểm ảnh Chia hướng gradient và gom đặc trưng tại mỗi cell Tính đặc trưng cho từng khối và chuẩn hóa Tính vector đặc trưng cho toàn cửa sổ Chuẩn hóa Ảnh đầu vào Tính Gradient gamma & màu Chia hướng và Tính đặc trưng Tính vector đặc gom đặc trưng tại cho khối và trưng cho cửa sổ mỗi cell chuẩn hóa Hình 2. 5 : Sơ đồ các bước trích chọn đặc trưng HOG [5] 2.1 Chuẩn hóa gamma và màu Trước khi trích xuất đặc trưng HOG, ảnh đầu vào được xác định kích thước và xử lý để chuẩn hóa về gamma và màu.
Mục tiêu của bước này là để giảm sự ảnh hưởng của ánh sáng và bóng đổ của đối tượng. Tiến hành làm giảm sự khác biệt giữa sáng 24 và tối, những vùng bị ánh sáng chiếu vào chỗ đó có histogram màu sáng tăng nhiều. Do vậy khi cân bằng lại thì ảnh không còn nhiều pixel màu sáng nữa. Phương pháp chuẩn hóa ảnh dùng biến đổi lũy thừa hoặc căn bậc hai.
Về màu xắc, các tác giả phương pháp cũng thử nghiệm với nhiều không gian màu khác nhau bao gồm ảnh mức xám (grayscale), không gian màu RGB và không gian màu LAB [5]. Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả [5], bước chuẩn hóa này có đem lại tác dụng nâng cao hiệu quả của hệ thống, tuy nhiên sự khác biệt là không lớn.