MỞ ĐẦU Hiện nay, các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính cao được khai thác và sử dụng các loài thực vật để làm thuốc và hỗ trợ chữa bệnh đã được thực hiện từ lâu. Nhiều hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học tốt đã được phân lập và đưa vào sử dụng để chữa các bệnh về viêm nhiễm, tiểu đường, ung thư. Xu hướng nghiên cứu và tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao có nguồn gốc tự nhiên ứng dụng trong y sinh và chữa bệnh ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học bởi các hợp chất thiên nhiên có độc tính thấp, dễ hấp thu, ổn định, dễ chuyển hóa trong cơ thể và ít tác dụng phụ. Nhóm các hợp chất carboxylic acid trong các loài thực vật chiếm tỉ trọng lớn, nhiều hợp chất thể hiện hoạt tính sinh học rất tốt, như: nhóm các hợp chất gallic acid thể hiện hoạt tính chống oxi hóa mạnh và ứng chế nhiều dòng tế bào ung thư.
Để phát huy hiệu quả chữa bệnh của các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học tốt trong y học, nhiều hướng nghiên cứu mới đã được phát triển, như: bán tổng hợp các hợp chất mới từ các hợp chất thiên nhiên để nâng cao hoạt tính; nghiên cứu tạo các dạng nano hoặc phức chất chứa các hợp chất thiên nhiên, trong đó có có nhân là các ion hoặc nguyên tử kim loại có tác dụng tăng cường chuyển các chất hữu cơ vào trong tế bào, và theo dõi sự phân bố các hợp chất trong cơ thể động vật. Bên cạnh đó, các phức chất này với đặc trưng chứa vòng thơm của phối tử còn có khả năng phát huỳnh quang. Khả năng phát xạ huỳnh quang của các phức chất được ứng dụng rộng rãi trong đánh dấu huỳnh quang sinh y, trong các đầu dò phát quang của phân tích sinh học, trong vật liệu quang điện. Việc nghiên cứu phức chất đã và đang là đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học bởi những ứng dụng to lớn của chúng trong nhiều lĩnh vực.
Trong só đó phúc chất của các nguyên tố đất hiếm với các phối tử hữu cơ vòng thơm ngày 1 càng được quan tâm nhiều hơn do chúng có khả năng phát quang và có hoạt tính sinh học cao. Với lí do trên, chúng tôi tiến hành "Nghiên cứu tổng hợp các phức chất của nguyên tố đất hiếm với acid gallic có khả năng phát quang và có hoạt tính sinh học". Chúng tôi hy vọng các kết quả thu được sẽ góp phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu phức chất carboxylate thơm với các nguyên tố đất hiếm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu chung về các nguyên tố đất hiếm và khả năng tạo phức của chúng 1. Đặc điểm chung của các nguyên tố đất hiếm (NTĐH) Các NTĐH bao gồm Sc, Y, La và 14 nguyên tố họ lantanit họ 4f (số thứ tự từ 58 đến 71 trong bảng tuần hoàn Menđêlêep: xeri (Ce), praseodim (Pr), neodim (Nd), prometi (Pm), samari (Sm), europi (Eu), gadolini (Gd), tecbi (Tb), (Dy), honmi (Ho), ecbi (Er), tuli (Tm), ytecbi (Yb) và lutexi (Lu). Như vậy, các nguyên tố đất hiếm thuộc nhóm IIIB và chu kỳ 6 của bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học. Cấu hình electron của các nguyên tử nguyên tố đất hiếm có thể biểu diễn bằng công thức chung: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d104s2 4p6 4d104fn 5s2 5p6 5dm 6s2.
Trong đó: n thay đổi từ 014 m chỉ nhận giá trị 0 hoặc 1. Dựa vào đặc điểm sắp xếp electron trên phân lớp 4f mà các lantanit được chia thành hai phân nhóm: Phân nhóm nhẹ (phân nhóm xeri) gồm 7 nguyên tố: từ Ce Gd. Các nguyên tố từ TB : Lu thuộc phân nhóm nặng (còn gọi là phân nhóm tecbi) Các nguyên tố họ lantanit chỉ khác nhau cấu hình electron ở phân lớp 4s do đó tính chất hóa hộc của chúng rất giống nhau và giống với nguyên tố lantan [5]. Từ Lantan đến Lutecxi bán kính nguyên tử của các lantannit giảm, hiện tượng này gọi là sự co lantanit đây là nguyên nhân làm cho tính chất của các lantanit biến đổi đều đặn và biến đổi tuần hoàn.
Các lantanit có số oxi hóa bền và đặc trưng là +3. Tuy nhiên có một số trường hợp ngoại lệ ví dụ: Ceri có số oxi hóa +4 (ngoài số oxi hóa +3), Eu có số oxi hóa +2 (ngoài số oxi hóa +3). Sm tương tự như Eu nhưng số oxi hóa +2 kém đặc trưng hơn. Tb, Dy có số oxi hóa +4 (ngoài số oxi hóa +3), Tm có số oxi hóa +2 (ngoài số oxi hóa +3).
Tuy vậy, các mức oxi hóa +2 và +4 đều kém bền hơn so với số oxi hóa +3. 3 Màu sắc của các Ln3+ được lặp lại tuần hoàn trong phân nhóm Ce và trong phân nhóm Tb [3]. Khả năng tạo phức của Ln3+ Khả năng phối trí của các Ln3+ kém hơn so với các nguyên tố nhóm B. Liên kết giữa các Ln3+ với các phối tử chủ yếu là liên kết ion và có một phần là liên kết cộng hóa trị.
So với khả năng tạo phức của các kim loại nhóm IIA thì khả năng tạo phức của các Ln3+ là tương đương. Các Ln3+ thường tạo ra các phức chất bền với các phối tử hữu cơ vì đặc trưng của các phối tử hữu cơ là có dung lượng phối trí lớn, tạo ra kiểu phối trí vòng càng với các NTĐH [5]. Vì liên kết giữa các ion Ln3+ với các phối tử mang nhiều bản chất ion nên trong các phức chất ion Ln3+ thường có số phối trí lớn. các số phối trí thường gặp là từ 6 đến 12 [8].
Nguyên nhân số phối trí cao và thay đổi của các Ln3+ là do tính không định hướng và không bão hòa của liên kết ion, có nhiểu orbitan hóa trị cũng như bán kính lớn của các ion Ln3+ [7]. 4 Khi điện tích hạt nhân của Ln3+ tăng lên, thì khuynh hướng tạo phức bền của các Ln3+ cũng tăng lên. Điều này là do hiện tượng “co lantanit”. Một số đặc trưng của gallic acid - Gallic acid Gallic acid thuộc nhóm acid trihydroxybenzoic (là dạng acid phenolic), là một acid hữu cơ, danh pháp là 3,4,5-trihydroxyaxit benzoic, có trong lá chè và nhiều loại thực vật khác.
Công thức hóa học là C6H2(OH)3COOH. Acid gallic có thể ở cả dạng tự do hay là một phần của tannin. Các muối và este của acid gallic được gọi là 'gallat'. Acid gallic không chứa gali như tên gọi của nó [10].
- Khả năng tạo phức của gallic acid Cũng như các carboxylic acid nói chung, trong phân tử gallic acid, nguyên tử H ở nhóm carboxyl -COOH rất linh động, trong nhóm carboxylat -COO nguyên tử oxi có khả năng cho electron. Acid này có khả năng tạo phức tốt với ion kim loại, trong đó nguyên tử kim loại thay thế nguyên tử hyđro trong nhóm carboxyl - COOH và liên kết kim loại - phối tử được thực hiện qua nguyên tử O của nhóm carbonyl trong nhóm chức -COOH tạo nên các phức chất vòng càng bền vững [10]. Tình hình nghiên cứu các carboxylate kim loại Trong những năm gần đây, các phức chất cacboxylat kim loại dạng MOF (cấu trúc khung kim loại - hữu cơ) thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học. 5 Hiện nay, trên thế giới có ba hướng nghiên cứu về các phức chất của cacboxylat kim loại đó: - Phức chất của các kim loại chuyển tiếp d hoặc f với một loại phối tử acid cacboxylic.
- Phức chất của hai hay nhiều kim loại với các cacboxylic khác nhau. - Phức chất cacboxylat của hỗn hợp các kim loại khác nhau Tác giả Abdulaziz M. Ajlouni và cộng sự [8] đã chế tạo được ba phức chất của ion đất hiếm: La (3+), Sm(3+), Yb(3+) (1-3) và 2,2'-(((1E,1'E)-thiophene- 2,5-diylbis(metanylylidene))bis-(azaneylylidene))diphenol (H2L), các phưc chất có có công thức chung [Ln(L)(NO3)(H2O)], chúng được tổng hợp từ Ln(NO3)3 {Ln = La(1), Sm(2) và Yb ( 3)}. Dựa trên cơ sở phân tích nguyên tố, nghiên cứu quang phổ (UV-Vis., FT-IR, ESI-MS, 1H/13C NMR), độ dẫn mol và phân tích nhiệt trọng lượng, cho thấy phối tử đã phối trí với các ion Ln(III) thông qua nitơ azomethine, nhóm hydroxyl bị khử proton và nguyên tử lưu huỳnh thiophene.
Nghiên cứu cho thấy phối tử và các phức chất của Ln(III) thể hiện ái lực liên kết tốt với DNA nên việc nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa của chúng rất có giá trị. Dữ liệu đã chỉ ra rằng, các phức chất này là chất ức chế hiệu quả đối với các dạng oxy hoạt động (ROS), chẳng hạn như anion superoxide và gốc hydroxyl. Hoạt độ của các hợp chất thử theo thứ tự tăng dần (1) > (2) > (3) > H2L tính theo giá trị IC50. Hoạt tính chống ung thư của các phức chất cũng đã được nghiên cứu đối với các dòng tế bào ung thư biểu mô ruột kết ở người (HCT-116) và ung thư vú ở người (MCF-7).
Các phức chất của Sm(III), Tb(III) và Eu(III) với phối tử (L) [axit 2- thiophenecarboxylic, 2-(2-pyridinylmethylene)hydrazide] đã được tác giả Ayman A Abdel Aziz và cộng sự [24] điều chế. Chúng được nghiên cứu bằng phân tích nguyên tố, đo độ dẫn mol, phân tích quang phổ (NMR, FT-IR và UV- Vis), phân tích phát quang và nhiệt trọng lượng. Phối tử bazơ Schiff là một 6 chelate tridentate và phối trí với ion lanthanide theo tỷ lệ kim loại:phối tử = 1:2. Đặc tính phát quang của các phức chất Sm (III), Tb(III) và Eu(III) đã được quan sát và cho thấy phối tử L có thể hấp thụ và truyền năng lượng cho các ion Sm3+, Tb3+ và Eu3+.
Các phức chất này có hoạt tính kháng khuẩn tốt đối với các chủng vi khuẩn khác nhau và tốt hơn so với phối tử. Tám phức chất của các nguyên tố đất hiếm đã được các tác giả [18] tổng hợp với phối tử bazơ Schiff tetradentat L (N,N′-bis(1-naphthaldimine)-o- phenylenediamine), các phức chất có công thức [LnL(NO3)2(H2O)x](NO3) {Ln(III) = Nd, Dy, Sm, Pr, Gd, Tb, La và Er, x = 0 đối với Nd, Sm, 1 đối với La, Gd, Pr, Nd, Dy và 2 đối với Tb}. Đặc tính và bản chất liên kết của các phức chất này được làm sáng tỏ bằng phương pháp phân tích nguyên tố, phân tích quang phổ (1H NMR, FT-IR, UV–vis), đo độ dẫn mol và phổ phát quang. Dữ liệu phân tích và quang phổ cho thấy phối tử L phối trí với các ion Ln(III) trung tâm bằng hai nguyên tử nitơ imine và hai nguyên tử oxy phenolic.
Dưới sự kích thích với bước sóng 329 nm ở nhiệt độ phòng, phức Tb và Dy thể hiện sự phát quang đặc trưng của các ion kim loại trung tâm do sự truyền năng lượng hiệu quả từ phối tử đến kim loại.