CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Axyl(N,N-điankylthioure) và phức chất của nó 1. Axyl(N,N-điankylthioure) Axyl(N,N-điankylthioure) hay axylthioure là dẫn xuất phổ biến nhất của N,N- đialkylthioure (Hình 1. Sự khác biệt giữa hai lớp hợp chất này một nguyên tử H trong nhóm –NH2 của N,N-đialkylthioure thay thế bằng một nhóm axyl.
R: ankyl hoặc aryl, R1, R2: ankyl Hình 1. Công thức cấu tạo tổng quát của axyl(N,N-điankylthioure) Sự có mặt của nhóm axyl làm cho proton NH trong axyl(N,N-điankylthioure) (HL1) trở nên linh động. Trong dung dịch, nó có thể tồn tại ở một số dạng tautomer (Hình 1. Sơ đồ chuyển hóa của axyl(N,N-điankylthioure) Khi tạo phức chất axyl(N,N-điankylthioure) (HL1) có xu hướng tách proton NH tạo anion phối tử [22].
Điện tích âm giải tỏa đều trên toàn bộ khung phối tử(Hình 1. Sự hình thành anion axylthioureto 2 Axyl(N,N-điankylthioure) được tổng hợp thành công lần đầu tiên vào năm 1873, sau đó quy trình tổng hợp các hợp chất này được hoàn thiện bởi Douglass và Dains [8], Dixon và Taylor [7]. Theo phương pháp của Douglass và Dain, axyl(N,N-điankylthioure) được tổng hợp qua hai bước (Hình 1. Ở bước đầu tiên, KSCN hoặc NH4SCN phản ứng với clorua axit tạo thành axyl thioxianat chứa –SCN.
Vì –SCN là một nhóm tách loại tốt nên nó rất dễ bị thủy phân ngay bởi hơi ẩm. Do đó, phản ứng này cần được tiến hành trong dung môi khan, ở đây thường sử dụng axeton. Bước hai, axyl thioxianat sẽ phản ứng với một amin bậc hai để tạo thành sản phẩm mong muốn. Quy trình tổng hợp axyl(N,N-điankylthioure) theo Douglass và Dains Theo phương pháp Dixon và Taylor, axyl(N,N-điankylthioure) tạo thành từ phản ứng thế nucleophil giữa axyl clorua và N,N-điankylthioure (Hình 1.
Bazơ hữu cơ như trietylamin hoặc pyriđin thường được thêm vào hỗn hợp phản ứng để hấp thụ HCl tạo thành nhằm tăng hiệu suất phản ứng. Quy trình tổng hợp axyl(N,N-điankylthioure) theo Dixon và Taylor 1. Phức chất của axyl(N,N-điankylthioure) Mặc dù axyl(N,N-điankyl thiourea) đã xuất hiện từ năm 1873 nhưng các phức chất của nó mới chỉ được nghiên cứu trong vòng hơn bốn thập kỉ trở lại đây. Vào năm 1975, Beyer và Hoyer đã công bố công trình đầu tiên trong hướng này về việc tổng hợp và nghiên cứu đặc điểm cấu trúc phức chất benzoyl (N,N-điankylthioure) với các kim loại chuyển tiếp nhóm 10, 11, 12 [3].
3 Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy phối tử axyl(N,N-điankyl thiourea) với nguyên tử O có tính bazơ cứng, nguyên tử S có tính bazơ mềm và nguyên tử H linh động trong nhóm –NH– có ba kiểu phối trí chính. Cụ thể là: kiểu anion hai càng (S,O), kiểu trung hòa một càng (S) và kiểu trung hòa hai càng (S,O). Trong đó, phổ biến nhất là kiểu anion hai càng (S,O) hình thành từ việc tách nguyên tử H của nhóm – NH–. Điện tích âm của anion này sẽ giải tỏa trong hệ π liên hợp của nhóm C=O và C=S và tạo nên bộ khung chelat của axyl(N,N-điankylthiourea).
Kiểu phối trí này thường xuất hiện với các ion kim loại có tính axit cứng và trung bình. Trong đó, ion kim loại hóa trị 3 (như Fe3+, Co3+ và Tc3+) thường tạo phức chất bát diện dạng fac [1, 2, 12, 17, 29], còn ion kim loại hóa trị 2 (như Cu2+ , Ni2+, Pd2+ và Pt2+) thường tạo thành phức chất vuông phẳng dạng cis [6, 10, 14, 17, 22] (Hình 1. Phức chất với kiểu phối trí anion hai càng Đối với kiểu phối trí trung hòa hai càng (S,O), đến nay mới chỉ biết đến duy nhất phức chất tetracacbonyl benzoyl(N,N-điankylthioure) reni [5]. Còn kiểu phối trí trung hòa một càng (S) thường tạo thành với các ion kim loại hóa trị thấp có tính axit mềm, ưa S như Ag+ và Au+.
Kiểu phối trí trung hòa hai càng (S,O) và trung hòa một càng (S) Tác giả U. Abram và cộng sự [5] đã tổng hợp thành công phức chất trung hòa [Re(CO) 3 Br(HEt 2 btu)] (HEt2 Btu = N,N-đietyl-N’-benzoylthioure) (Hình 1.8) bằng phản ứng trao đổi phối tử giữa K2[Re(CO)3Br3] và HEt2btu trong dung môi THF. Cấu trúc tinh thể phức chất [Re(CO)3Br(HEt2btu)] Khi cho PdCl2 phản ứng với benzoyl(N,N-đi(n-butyl)thioure) (HL1) theo tỉ lệ mol 1 : 2 trong dung môi axetonitrin, Selvakumaran và cộng sự [27] đã tổng hợp được phức chất trans-[PdCl2(HL1-S)2], trong đó ion Pd(II) chỉ liên kết với phối tử HL1 trung hòa qua nguyên tử cho S (Hình 1. Cấu trúc phân tử phức chất trans-[PdCl2(HL1-S)2] Nguyên tắc chung trong điều chế phức chất chứa phối tử axyl(N,N-điankylthioure) là cho dung dịch muối của kim loại (thường dùng là muối axetat hoặc muối clorua) phản ứng với phối tử tương ứng theo tỉ lệ mol thích hợp trong các dung môi phân cực như metanol, etanol hoặc metanol-nước.
Thông thường, một lượng trietylamin (bazơ hữu cơ) thích hợp được thêm vào hỗn hợp phản ứng nhằm hỗ trợ quá trình tách proton của phối tử. Đối với phản ứng trong dung môi phân cực, xu hướng tạo các phức chất trung hòa xảy ra tương đối mạnh, các phức chất này kém tan và kết tủa tách khỏi phản ứng ở dạng vi tinh thể [25]. Trong một số trường hợp, dư lượng trietylamin có thể gây ra hiện tượng kết tủa hiđroxit ion kim loại làm giảm đáng kể hiệu suất phản ứng. Để hạn chế điều này, một số phức chất chứa phối tử linh động của kim loại chuyển tiếp như [Pd(CH3CN)2Cl2], [Pt(PPh3)2Cl2], [ReO(PPh3)2Cl3],… được dùng làm chất đầu và phản ứng được tiến hành trong dung môi ít phân cực, như CH2Cl2 hay CHCl3.
Axylbis(N,N-điankylbisthioure) và ứng dụng 1. Axylbis (N,N-điankylthioure) Như đã đề cập ở trên, axyl(N,N-điankylthiuore) tạo nên nhiều phức chất khác nhau với sự đa dạng trong cách phối trí. Tuy nhiên, những phối tử này hầu hết chỉ tạo phức chất đơn nhân. Để tăng khả năng phối trí của họ hợp chất này, người ta sử dụng 6 hệ vòng thơm làm nhóm R trong hợp phần axyl và gắn thêm một nhóm cacbonylthioure vào hệ vòng này.
Những hợp chất như vậy được gọi là aroyl bis(N,N- điankylthiuore). Thực nghiệm cho thấy chúng rất phù hợp để tổng hợp phức chất đa nhân kim loại. Vào năm 1986, Beyer và các công sự công bố nghiên cứu đầu tiên trên họ hợp chất aroyl bis(N,N-điankykthioure) [14]. Hai hợp chất được đề cập đến trong công trình này là isophtaloyl bis(N,N-điankylthioure) (m-H 2 L 1 ) và terephtaloyl bis(N,N- điankylthioure) (p-H 2 L 1 ).
Hai phối tử này khi tạo phức có xu hướng tách proton để tạo thành dạng anion {L2–} và liên kết với các ion kim loại thông qua bộ nguyên tử cho (S,O). Phối tử m-H2L1 chủ yếu tạo thành phức chất hai nhân trong khi p-H2L1 lại ưu tiên tạo thành phức chất ba nhân [11, 15, 16, 21, 26]. Kể từ đó, các nghiên cứu đã tập trung vào các phối tử H2Ln có chứa thêm dị tố có tính bazơ cứng như N hoặc O trong hợp phần cầu nối giữa hai hợp phần cacbonylthioure (Hình 1. Phối tử dạng H2Ln 8 Trong phối tử H2Ln đưa ra trên đây, hợp phần cacbonylthioure có nguyên tử S là một bazơ mềm, trong khi hợp phần dị vòng thơm cầu nối chứa các nguyên tử bazơ cứng N hoặc N.
Sự khác nhau về tính chất của các nguyên tử tạo phức trong hai hợp phần dẫn đến các phối tử H2Ln hiếm khi tạo được phức đồng nhân. Đối với số ít các phức đồng nhân đã được tổng hợp, cấu trúc của chúng cũng rất khác so với phức đồng nhân của phối tử H2L1, điển hình như trường hợp của phức Ni(II) với phối tử H2L2 [4]. Trong phức chất [Ni2(L2)2(MeOH)(H2O)] (Hình 1.12), một nguyên tử Ni liên kết với với hợp phần cacbonylthioure tương tự như với H2L1, tuy nhiên nguyên tử Ni còn lại liên kết với các nguyên tử N pyridin và N ở hợp phần cacbonylthioure. Từ đó có thể khẳng định tồn tại sự cạnh tranh giữa các hợp phần của phối tử trong việc tạo phức.
Phức chất [Ni2(L2)2(MeOH)(H2O)] Sự cạnh tranh giữa các hợp phần của phối tử là một đặc điểm thú vị của thế hệ phối tử H2Ln và đem lại chúng có khả năng tạo phức chọn lọc với các kiểu ion kim loại khác nhau dẫn đến việc hình thành phức chất dị nhân. Cụ thể là khi phản ứng với hỗn hợp ion kim loại, hai nhánh ngoài cùng sẽ có khuynh hướng liên kết với các kim loại axit mềm hoặc trung bình, trong khi hợp phần dị vòng trung tâm sẽ liên kết với kim loại axit cứng. Phức chất Ni2Ce (Hình 1.13) với phối tử H2L2 là những phức chất đầu tiên được tổng hợp thành công[20]. Các phức chất đa nhân bền vẫn được tạo 9 thành khi ta tăng tỉ lệ phối tử trên hỗn hợp kim loại từ 2:1 lên 3:1.
Tiếp sau đó, một loạt các phức thuộc dạng này với các kim loại chuyển tiếp khác nhau như Co(II), Ni(II) , Zn(II) và Cu(II) [17] đã được công bố. Cấu trúc phức chất ba nhân {Ce(NO3)(μ-AcO)2Ni2(MeOH)2(L2- S,O)2]} Trong khi các nghiên cứu về phức đa nhân chứa phối tử H2L2 rất đa dạng thì số lượng các công trình về các phức của phối tử H2L3 và H2L4 còn rất hạn chế. Đến nay, chưa có báo cáo nào về phức dị nhân với phối tử H2L3, trong khi phức đồng nhân cũng chỉ có một nghiên cứu về phức của Rheni(V) với hai dạng cấu trúc khi kết tinh trong hai hệ dung môi khác nhau. Đối với H2L4, duy nhất có công trình về phức của các hệ MnII-MnII, MnII -MI- MnII, InIII-InIII, ZnII-MI-ZnII, MnII-MI-FeIII của tác giả T.
Wioppiold [31] được công bố. Ứng dụng của axylbis (N,N-điankylthioure) Axylbis(N,N-điankylthioure) được ứng dụng nhiều trong việc tách và tinh chế kim loại quí. Một ứng dụng quan trọng khác của aroylthioure và phức chất aroylthioureato kim loại là dựa vào hoạt tính sinh học rất đa dạng 10 của chúng. Thioure nói chung và aroylthioure nói riêng cùng v ới phức chất kim loại của chúng đã được ứng dụng để bào chế thuốc với vai trò là tiền chất hoặc hoạt chất chính [24].
Xue đã tổng hợp và nghiên cứu tính chất diệt cỏ của dẫn xuất N-(o-flophenoxyaxetyl)thioure (Hình 1. Dẫn xuất này có khả năng kìm hãm sự phát triển rễ và thân của năm loại thực vật là cỏ lồng vực (Echinochloa crusgallis), bo bo (Sorghum bicolot), cỏ túc (Digitaria sanguinalis), dền ngược (Amaranthus retroflexus) và một loại cỏ thuộc chi rau muối (Chenopodium serotinum) [13]. Saeed và cộng sự đã tổng hợp và thử dược tính kháng nấm C. Tropicalis của mười hai dẫn xuất thiophenthioure (Hình 1.
Ba loại nấm này là những loại nấm thường gặp, gây bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như nhiễm trùng máu, mô não, nội tạng… Hoạt tính kháng giun tròn của dãy chất 1-axyl-3-(2’-aminophenyl)thioure được H. Zhang và cộng sự công bố vào năm 2010. Các hợp chất này được thí nghiệm trên chuột nhiễm giun Nippostrongylus brazilliensis thông qua đường uống với nồng độ 10mg/kg thể trọng. Trong số các dẫn xuất mà nhóm nghiên cứu thử nghiệm, hợp chất 1-(2'-furanyl)axyl-3-(2'-aminophenyl)thioure (Hình 1.14c) có hiệu suất kháng giun cao nhất, đạt 89,4% so với thuốc kháng giun sán phổ rộng được sử dụng phổ biến là Albendazole [9].
Wyles cùng với cộng sự đã phát hiện 1-(4-pentyloxy-3- triflometylphenyl)-3-(pyriđin-3-cacbonyl)thioure (Hình 1.