CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN XÚC TÁC ĐỒNG THỂ OXY HOÁ - KHỬ BẰNG PHỨC CHẤT CỦA ION KIM LOẠI CHUYỂN TIẾP 1. Vai trò của sự tạo phức đến tính chất xúc tác của ion kim loại chuyển tiếp Mz+. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một số ion kim loại ở dạng tự do không có tính xúc tác nhưng khi chuyển vào phức chất thì lại thể hiện hoạt tính xúc tác rất rõ, đặc biệt là các ion kim loại chuyển tiếp. Khi chuyển ion kim loại vào phức chất, các quy luật động học và cơ chế của quá trình oxy hoá - khử bị thay đổi một cách rõ rệt như: sự thay đổi chiều hướng và giới hạn của phản ứng, vân tốc phản ứng.
Tính đặc thù của các phức chất có ỹ nghĩa to lớn, vì sự tạo phức giữa các ion kim loại chuyển tiếp (M Z+) và các ligan (L) khác nhau là một phương pháp rất hữu hiệu để tạo ra các phức có hoạt tính và độ chọn lọc cao. Vai trò của ion kim loại chuyển tiếp trong phức chất xúc tác. Những kim loại chuyển tiếp nhóm d được phân bố trong các chu kỳ lớn của bảng hệ thống tuần hoàn và ở giữa các nguyên tố s và p. Không như cấu trúc electron của các nguyên tố s và p là điền vào các orbital ngoài cùng, các electron của những nguyên tố này lại điền vào các orbital d cận ngoài cùng, do đó chúng có một số đặc điểm cơ bản sau [9],[11]: Hầu hết các nguyên tử kim loại chuyển tiếp d, ở các trạng thái oxy hoá thì các orbital d đều chưa điền đầy và các electron trên các orbital (n-1)d có chuyển nhượng cho nhau.
Năng lượng của các orbital (n-1)d, ns, np hoặc là giữa ns, np, nd là gần tương đương nhau vì vậy khả năng xảy ra sự lai hoá orbital là cao. Nguyễn Tiến Khí Luận văn thạc sĩ khoa học -5- Vì vậy, theo phương pháp orbital phân tử (phương pháp MO), khi tương tác phối trí của M Z+ với ligan (L) hoặc với cơ chất có tính ligan (S L ) thì ion kim loại chuyển tiếp M Z+ có thể nhận vào orbital trống d(x2-y2) các electron từ L (hoặc S L) để hình thành liên kết σ, đồng thời, ion MZ+ còn có thể chuyển ngược electron từ orbital dxy của nó sang orbital π* phản liên kết của L (hoặc S L ) tạo thành liên kết π ngược giữa MZ+ và L (hoặc S L) [1],[9]. Kết quả là sự tạo phức làm cho các liên kết hoá học trong phân tử của các chất yếu đi như trong quá trìnhhoạt hoá bằng xúc tác sinh học. Điều này đã giải thích khả năng hoạt hoá các hợp chất phức xúc tác, làm cho các phản ứng xúc tác oxy hoá - khử có thể diễn ra ở điều kiện mềm (T, P thường) với tốc độ và độ chọn lọc cao.
Ví dụ 1: Xét quá trình hoạt hoá C 2 H4 bằng phức chất [PtCl3 ]- (hình 1.1)[7] dx2-y2 y dxy - b + - - + + MZ+ a+ + - x + - - + - b Hình 1.1: Liên kết phối trí giữa Pt2+ và C2 H 4 a: Liên kết σ b: Liên kết π Hình 1.1 mô tả quá trình phân bố lại điện tử trên phân tử phức [PtCl 3 C 2 H 4 ]-: điện tử dịch chuyển từ orbital π của C 2 H 4 sang orbital d(x2-y2) của Pt2+ tạo thành liên kết σ giữa Pt2+ và C 2H 4. Đồng thời, điện tử cũng được dịch chuyển từ orbital dxy của Pt2+ sang orbital π* của C 2 H 4 tạo thành liên kết π ngược giữa Pt 2+ và C 2H 4. Sự phân bố lại điện tử làm cho liên kết C=C yếu đi (độ Nguyễn Tiến Khí Luận văn thạc sĩ khoa học -6- giảm tần số dao động trong phổ hồng ngoại của ∆ν C=C ≈ 200 cm-1, độ dài liên kết C-C tăng từ 1,38A0 lên 1,54A0, độ bội liên kết giảm từ 2 xuống 1, tương ứng trạng thái lai hoá của nguyên tử C từ sp2 sang sp3) do đó, các tiểu phân nucleofil như OH -, H- … dễ dàng xâm nhập vào các liên kết C=C đã được hoạt hoá của C 2H 4 [6], [7],[11]. Trong quá trình xúc tác, nhiều trường hợp hiệu ứng “liên kết π ngược” có ỹ nghĩa hơn là liên kết σ, quan trong nhất là sự xen phủ giữa các orbital tương ứng của MZ+ và L (hoặc S L) phải tuân theo quy tắc bảo toàn tính đối xúng và nguyên tắc xen phủ cực đại, đảm bảo cho các electron được vận chuyển dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạt hoá và các giai đoạn biến đổi tiếp theo trong quá trình xúc tác.
Ảnh hưởng của sự tạo phức đến tính chất xúc tác của MZ+. Như đã phân tích ở trên, trong các phức chất làm xúc tác có sự vận chuyển electron từ MZ+ đến L (hoặc S L ) và ngược lại (hình 1. Sự phối trí này gây ra sự thay đổi các tính chất của: ligan, các cơ chất và ion kim loại tạo phức MZ+ :[6],[12] a) Tăng độ bền thuỷ phân của các ion kim loại: Trong dung dịch nước, các ion kim loại chuyển tiếp (MZ+) khi pH tăng sẽ bị thuỷ phân: Z+ +H2O +H2O +M MZ+ + M(OH) + H + M(OH)2 [M2(OH) 2]Z+ .1) Sản phẩm của quá trình thuỷ phân là các dạng phức chất hydroxo monome M(OH)+ , dime [M2 (OH) 2] Z+, polime, hydroxyt trung hoà M(OH) z … ở dạng kết tủa hoặc dạng dung dịch keo làm giảm nồng độ ion MZ+ và làm mất tính đồng thể của hệ, do đó tốc độ của phản ứng được xúc tác bằng ion M Z+ sẽ bị giảm theo. Nếu ion MZ+ có trạng thái oxy hoá (z+) cao và độ chưa bão hoà phối trí lớn thì tốc độ thuỷ phân càng lớn, hơn thế các ion kim loại Nguyễn Tiến Khí Luận văn thạc sĩ khoa học -7- chuyển tiếp dễ bị thuỷ phân khi pH tăng dần.
Thông thường độ bền thuỷ phân của phần lớn các ion MZ+ bị giới hạn trong khoảng hẹp pH = 3 ÷ 5. Khi cho ligan L (với L có thể là phân tử trung hòa hoặc ở dạng các anion) vào dung dịch của M Z+ và tăng dần pH của dung dịch (giả thiết L có hai nhóm chức tạo phức và ion MZ+ có số phối trí lớn nhất bằng 6) sẽ xảy ra các trường hợp sau: Ở pH thấp, trong dung dịch tồn tại các dạng proton hoá của L là LH+ và LH 2 2+ và ion MZ+ (do chưa tạo phức vơi L): + +H +H+ L LH + LH 22+ (1.2) Theo chiều tăng của pH, các dạng proton hoá của ligan bị phân ly và các cân bằng sẽ dịch chuyển về phía tạo ra L: + -H LH22+ LH+ - H+ L (1.3) Nếu ligan là axit, ví dụ như axit citric, kí hiệu là H 4 L, thì sự phân ly diễn ra theo chiều: -H+ -H+ -H+ -H + H 4L H3 L- H2L 2- HL3- L4- (1.4) Nhờ vậy một phần ion MZ+ được liên kếtvào các dạng phức chất: +L +L +L Mz+ LMz+ L2Mz+ L3 Mz+ (1.5) Khi tiếp tục tăng pH đến một giới hạn nào đó thì một số dạng phức chất không bền của M Z+ bị thuỷ phân tạo thành các phức chất hydroxo: LMZ+ + H2O ⇌ LMOH(Z-1)+ + H+ (1.8) Điều khác cơ bản với trường hợp thuỷ phân ion MZ+ tụ do là quá trình thuỷ phân phức chất của MZ+ diễn ra chậm hơn và ở pH cao hơn. Hằng số bền Nguyễn Tiến Khí Luận văn thạc sĩ khoa học -8- của phức chất càng lớn thì độ bền thuỷ phân của dung dịch càng lớn và tính chất đồng thể của dung dịch được bảo toàn ở pH càng cao, nhiều trường hợp phức chất xúc tác có thể hoạt động được ở vùng pH = 12.[12] Các cân bằng từ (1.8) cho thấy: Tuỳ thuộc vào pH mà MZ+ có thể tồn tại ở nhiều dạng phức chất khác nhau. Bằng cách thay đổi pH ta có thể làm cân bằng chuyển dịch về phía tạo thành dạng phức chất đóng vai trò xúc tác mà tại đó tốc độ quá trình xúc tác (WS ) đạt giá trị cực đại.
b) Thay đổi thế oxy hoá - khử của ion kim loại: Do ion kim loại tham gia vào quá trình tạo phức với ligan, làm cho nồng độ cân bằng của chúng cũng bị giảm đi, vì vậy, thế oxy hoá-khử cũng bị thay đổi theo. Mỗi phức chất tạo thành được đặc trưng bởi hằng số bền KL M( z+1) + , n giữa thế oxy hoá - khử và hằng số bền liên hệ với nhau bằng biểu thức [1],[5],[9]: RT K L n M ( z +1) + (1.9) ϕ L M ( z+1)+ / L M z+ = ϕ M ( z+1)+ / M z+ − ln n n F K L M z+ n Trong đó: K L M ( z +1 )+ : là hằng số bền của phức ở dạng oxy hoá. n KL M z + : là hằng số bền của phức ở dạng khử. n ϕM ( z+1)+ / M z+ : thế oxy hoá - khử ở dạng ion tự do.
R: hằng số khí; T: nhiệt độ tuyệt đối; F: hằng số Faraday Từ công thức (1.9) ta thấy: Nếu ( z +1) + > z+ thì ϕ ( z+ 1 )+ z+ < ϕ ( z+1 ) + z+ , chứng tỏ sự tạo phức KL M K L M L M /L M M /M đã làm ổn định trạng thái oxy hoá cao của ion kim loại M (Z+1)+ (dạng oxy hoá). Điều này xảy ra khi ligan chỉ tạo liên kết σ với ion kim loại. Nguyễn Tiến Khí Luận văn thạc sĩ khoa học -9- Nếu K L M( z+1) + < K L M z + thì ϕL M( z +1) + / L Mz + > ϕM( z +1) + / Mz + , chứng tỏ sự tạo phức n n n n đã làm ổn định trạng thái oxy hoá thấp M Z+ (dạng khử). Điều này xảy ra khi ligan tạo liên kết π ngược với ion kim loại.
Sự thay đổi thế oxy hoá - khử gắn liền với sự vận chuyển (cho và nhận) electron, nên tốc độ của phản ứng xúc tác oxy hoá - khử phụ thuộc cả vào thế điện cực của cặp oxy hoá - khử đó. Các kết quả nghiên cứu [12],[26] cho thấy: Hoạt tính xúc tác đạt cực đại ở một giá trị tối ưu về thế oxy hoá - khử của phức chất xúc tác, do đó phức chất xúc tác cũng phải có độ bền tối ưu, nếu độ bền tối ưu nhỏ, phức chất bị thuỷ phân và độ bền tối ưu quá lớn, phức chất bị mất hoạt tính.