CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Ở chương này tôi trình bày các định nghĩ định nghĩa, cơ sở lý thuyết cơ bản về cảm xúc, phân loại cảm xúc, những phương pháp nghiên cứu cảm xúc. Mối quan hệ giữa điện não đồ (EEG) và cảm xúc. Các phương pháp nghiên cứu cảm xúc bằng EEG phổ biến.
Cuối cùng sẽ tìm hiểu về biến đổi wavelet và mô hình Convolutional neural network.1 Cảm xúc ở người 1.1 Tổng quan cảm xúc Cảm xúc là một trạng thái sinh học liên quan đến hệ thần kinh, nó hình thành dựa vào sự thay đổi của những sinh lý thần kinh khác nhau nhưng nó luôn gắn liền với suy nghĩ, cảm nhận, phản ứng hành vi. Trạng thái cảm xúc được định nghĩa là một tập hợp của một số hữu hạn các trạng thái rời rạc tương ứng với một trong những cảm xúc cốt lõi, bao gồm tức giận, sợ hãi, ghê tởm, ngạc nhiên, hạnh phúc và buồn bã hoặc kết hợp của chúng [2]. Cảm xúc là một phần thiết yếu của con người chúng ta và cách chúng ta cư xử. Chúng rất quan trọng đối với chúng ta để hoạt động như những con người đưa ra quyết định hợp lý.
Mối quan tâm chính của liệu pháp tâm lý là sửa chữa các rối loạn cảm xúc. Trong cuộc sống hàng ngày thì cảm xúc ảnh hưởng rất nhiều tớ hành vi của con người. Trong mỗi tình huống khác nhau nó sẽ giúp con người đưa ra quyết định, hành động và nhận định cho tình huống đó. Như việc khi con người mua một mặt hàng nào đó họ sẽ có cảm nhận yêu thích đồ vật hoặc ghét bỏ hay khi con người chơi hay trải nghiệm một trò chơi mới họ cũng sẽ đưa ra một nhận định thông qua những cảm xúc khi họ chơi trò chơi mang lại từ đó đưa ra quyết đinh yêu thích, tiếp tục chơi hoặc ghét bỏ và ngường chơi trò chơi đó.1: Một số trạng thái cảm xúc cơ bản Trong quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật đã có nhiều nghiên cứu về cảm xúc đã giúp đóng góp cho nhiều lĩnh vực bao gồm tâm lý học, khoa học thần kinh, khoa học thần kinh ảnh hưởng, nội tiết học, y học, lịch sử, xã hội học cảm xúc và khoa học máy tính.
Trong đó có nhiều nghiên cứu cũng chứng mình rằng cảm xúc cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật, đang ảnh hưởng đến 264 triệu người [4] mà cảm xúc là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh trầm cảm. Các lý thuyết chính về cảm xúc có thể được tôi thành 3 loại chính: sinh lý, thần kinh và nhận thức. Các lý thuyết về sinh lý cho rằng các phản ứng bên trong cơ thể chịu trách nhiệm về cảm xúc.
Các lý thuyết thần kinh đề xuất rằng hoạt động trong não dẫn đến các phản ứng cảm xúc. Các lý thuyết nhận thức cho rằng suy nghĩ và các hoạt động tinh thần khác đóng một vai trò thiết yếu trong việc hình thành cảm xúc. a) Lý thuyết tiến hóa của cảm xúc Nhà tự nhiên học Charles Darwin đã đề xuất rằng những cảm xúc đã tiến hóa bởi vì chúng thích nghi và cho phép con người và động vật tồn tại và sinh 4 sản. Cảm xúc của tình yêu và tình cảm dẫn mọi người đến tìm bạn tình và sinh sản.
Cảm giác sợ hãi buộc mọi người phải chiến đấu hoặc chạy trốn khỏi nguồn nguy hiểm. Theo lý thuyết tiến hóa của cảm xúc, cảm xúc của chúng ta tồn tại bởi vì chúng phục vụ một vai trò thích ứng. Cảm xúc thúc đẩy mọi người phản ứng nhanh chóng với những kích thích trong môi trường, giúp cải thiện cơ hội thành công và sống còn. b) Lý thuyết James-Lange về cảm xúc Lý thuyết James-Lange là một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về lý thuyết sinh lý của cảm xúc.
Được đề xuất độc lập bởi nhà tâm lý học William James và nhà sinh lý học Carl Lange, lý thuyết James-Lange về cảm xúc cho rằng cảm xúc xảy ra là kết quả của các phản ứng sinh lý đối với các sự kiện [13]. c) Thuyết Cannon-Bard về cảm xúc Một lý thuyết sinh lý nổi tiếng khác là lý thuyết Cannon-Bard về cảm xúc. Walter Cannon không đồng ý với lý thuyết James-Lange về cảm xúc trên một số lý do khác nhau. Đầu tiên, ông gợi ý, mọi người có thể trải qua các phản ứng sinh lý liên quan đến cảm xúc mà không thực sự cảm nhận được những cảm xúc đó.
Ví dụ, tim của bạn có thể đập mạnh bởi vì bạn đang tập thể dục, không phải vì bạn sợ hãi [14]. Cannon cũng gợi ý rằng phản ứng cảm xúc xảy ra quá nhanh chỉ đơn giản là sản phẩm của trạng thái thể chất. Khi gặp nguy hiểm trong môi trường, bạn thường sẽ cảm thấy sợ hãi trước khi bắt đầu trải qua các triệu chứng thể chất liên quan đến sợ hãi, chẳng hạn như run tay, thở nhanh và tim đập nhanh [14]. Cannon lần đầu tiên đề xuất lý thuyết của mình vào những năm 1920, và công trình của ông sau đó được nhà sinh lý học Philip Bard mở rộng trong những năm 1930.
Theo lý thuyết Cannon-Bard về cảm xúc, chúng ta cảm nhận được cảm xúc và trải qua các phản ứng sinh lý như đổ mồ hôi, run rẩy và căng cơ đồng thời [15]. 5 Cụ thể hơn, lý thuyết cho rằng cảm xúc là kết quả khi đồi thị gửi thông điệp đến não để phản ứng lại một kích thích, dẫn đến phản ứng sinh lý. Đồng thời, não cũng nhận được các tín hiệu kích hoạt trải nghiệm cảm xúc. Lý thuyết của Cannon và Bard cho rằng trải nghiệm vật lý và tâm lý của cảm xúc xảy ra đồng thời và cái này không gây ra cái kia [15].
d) Thuyết Schachter-Singer về cảm xúc Còn được gọi là lý thuyết hai yếu tố của cảm xúc, lý thuyết Schachter- Singer là một ví dụ về lý thuyết nhận thức về cảm xúc. Lý thuyết này cho rằng kích thích sinh lý xảy ra đầu tiên, và sau đó cá nhân phải xác định lý do kích thích này để trải nghiệm và gắn nhãn nó như một cảm xúc. Một kích thích dẫn đến một phản ứng sinh lý sau đó được giải thích và dán nhãn về mặt nhận thức, dẫn đến một cảm xúc [16]. Lý thuyết của Schachter và Singer dựa trên lý thuyết James-Lange và lý thuyết Cannon-Bard.
Giống như lý thuyết James-Lange, lý thuyết Schachter- Singer đề xuất rằng mọi người suy luận cảm xúc dựa trên các phản ứng sinh lý. Yếu tố quan trọng là hoàn cảnh và cách giải thích nhận thức mà mọi người sử dụng để gắn nhãn cảm xúc đó [16]. Giống như lý thuyết Cannon-Bard, lý thuyết Schachter-Singer cũng cho rằng những phản ứng sinh lý tương tự có thể tạo ra những cảm xúc khác nhau. Ví dụ, nếu bạn cảm thấy tim đập nhanh và lòng bàn tay đổ mồ hôi trong một kỳ thi quan trọng, bạn có thể xác định cảm xúc đó là lo lắng.
Nếu bạn trải qua những phản ứng thể chất giống nhau vào một buổi hẹn hò, bạn có thể hiểu những phản ứng đó là tình yêu, tình cảm hoặc sự kích thích [16]. e) Lý thuyết đánh giá nhận thức Theo các lý thuyết thẩm định về cảm xúc, suy nghĩ phải xuất hiện đầu tiên trước khi trải nghiệm cảm xúc. Richard Lazarus là người đi tiên phong trong lĩnh vực cảm xúc này, và lý thuyết này thường được gọi là lý thuyết Lazarus về cảm xúc. 6 Theo lý thuyết này, chuỗi sự kiện trước tiên liên quan đến một kích thích, sau đó là suy nghĩ, sau đó dẫn đến trải nghiệm đồng thời của phản ứng sinh lý và cảm xúc.
Ví dụ, nếu bạn gặp một con gấu trong rừng, bạn có thể ngay lập tức nghĩ rằng bạn đang gặp nguy hiểm lớn. Sau đó, điều này dẫn đến trải nghiệm cảm xúc về nỗi sợ hãi và các phản ứng thể chất liên quan đến phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy [17]. f) Lý thuyết phản hồi trên khuôn mặt của cảm xúc Lý thuyết phản hồi trên khuôn mặt về cảm xúc cho rằng các biểu hiện trên khuôn mặt có liên quan đến việc trải nghiệm cảm xúc. Charles Darwin và William James đều sớm lưu ý rằng đôi khi các phản ứng sinh lý thường có tác động trực tiếp đến cảm xúc, thay vì chỉ đơn giản là hệ quả của cảm xúc.
Những người ủng hộ lý thuyết này cho rằng cảm xúc liên quan trực tiếp đến những thay đổi của cơ mặt. Ví dụ, những người buộc phải mỉm cười hài lòng trong một hoạt động xã hội sẽ có thời gian tại sự kiện tốt hơn so với họ nếu họ cau mày hoặc biểu hiện trên khuôn mặt trung tính hơn [18]. Qua những lý thuyết về cảm xúc ở người, ở mục tiếp theo tôi trình bày về tổng quan về việc phân loại cảm xúc và hướng phân loại tôi lựa chọn trong đề tài nghiên cứu này.2 Phân loại cảm xúc Có hai loại quan điểm khác nhau đối với việc thể hiện cảm xúc: - Loại đầu tiên chỉ ra rằng những cảm xúc cơ bản đã phát triển thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Plutchik đề xuất cảm xúc gồm có 8 trạng thái cơ bản: tức giận, sợ hãi, buồn bã, ghê tởm, ngạc nhiên, tò mò, chấp nhận và vui mừng [19].
Tất cả những cảm xúc khác có thể được hình thảnh bởi cảm xúc cơ bản này (Ví dụ: Thất vọng bao gồm ngạc nhiên và buồn bã). - Ở góc nhìn thứ hai, cảm xúc được ánh xạ thành các chiều Giá trị (Valence), Kích thích (Arousal), Sự thống trị (Dominance). Giá trị đi từ cảm giác rất tích cực đến rất tiêu cực (hoặc không hài lòng với niềm vui); kích thích đi từ các trạng thái như buồn ngủ đến phấn khích, và cuối cùng, sự thống trị tương ứng 7 với sức mạnh của cảm xúc. Mô hình phổ biến được sử dụng là Mô hình ảnh hưởng Circumplex, chỉ sử dụng giá trị và kích thích.
Sử dụng mô hình này giúp việc phân loại và đánh giá cảm xúc trở nên rõ ràng hơn.2: Mô hình cảm xúc của Russell [20] Hầu hết nhà nghiên cứu đồng ý với quan điểm 2 [2]. Một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh giá trị valence hay giá trị arousal là cơ bản của trải nnghiệm cảm xúc. Một số người khác hợp cả hai loại giá trị này. Bên cạnh đó cũng có cả một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh những cảm xúc rời rạc cơ bản cũng cho phép valence và arousal đóng vai trò lớn trong việc phân loại.
Trong đó mô hình cảm xúc Russell được áp dụng khá phổ biến [20]. Mô hình này với giá trị hai trục Valence và Arousal giúp ta phân biệt được các trạng thái cảm xúc.