đặt vấn đề giải quyết bài toán nhận dạng chữ tổng quát. Tuy vậy, cho đến nay vẫn còn rất nhiều vấn đề liên quan đến hệ nhận dạng cú pháp chưa được giải quyết độc lập và chưa xây dựng được các thuật toán phổ dụng. Phương pháp nhận dạng cấu trúc chữ Phương pháp này bao gồm phân hoạch bảng ký tự và trích chọn các đặc trưng của ký tự. + Phân hoạch bảng ký tự: Căn cứ vào tiêu chuẩn cấu trúc của các ký tự như số thành phần liên thông, số chu trình, số và vị trí các chạc ba,.
rồi phân hoạch thành tập có 1,2 điểm kết thúc. Sau khi phân hoạch, ta sẽ có một bảng phân hoạch đầy đủ cho tất cả các ký tự và căn cứ vào đặc điểm cấu trúc này để nhận dạng. Tuy nhiên với tập phân hoạch trên vẫn chưa thực hiện được mục tiêu đặt ra là làm các tập nhỏ nhất, giải pháp tạo ra các tập mịn hơn đó là dựa vào một số đặc trưng khác như điểm cắt dọc, cắt ngang, khoảng cách của 2 lớp, lớp cắt dọc, ngang,. + Trích chọn các đặc trưng: Các đặc trưng của ký tự cần trích chọn bao gồm các điểm kết thúc, các chạc ba.
Điểm kết thúc chỉ có duy nhất một trong các láng giềng là đen (a,b). Điểm chạc ba là điểm có tối thiểu ba láng giềng là đen (c,d,e). Để nhận dạng tốt, trước khi đem nhận dạng các ký tự cần được làm mảnh.3: Các điểm kết thúc, điểm chạc ba Chương trình duyệt theo từng dòng để tìm kiếm một cột đen nào đó trên ảnh, sau đó quá trình duyệt lại được bắt đầu từ điểm vừa tìm ra bằng cách lần theo cạnh. Để tăng độ chính xác, người ta còn kết hợp phương pháp này với phương pháp thống kê giao điểm, đặc biệt là khi nhận dạng chữ có dấu.
Kỹ thuật xử lý ảnh dùng cho nhận dạng 1. Thu nhận ảnh 1. Thiết bị thu nhận ảnh: Hai thiết bị thu nhận ảnh thường được sử dụng là Camera và Scanner. Chúng có nhiều loại khác nhau nhưng cấu tạo và nguyên lý hoạt động của chúng thì nhìn chung là giống nhau.
* Camera: Camera là thiết bị thu hình phổ biến nhất. Camera thu nhận các tia sáng phản xạ từ các vật trong tự nhiên và hội tụ chùm sáng đó trên một màn nhận ảnh với các phần tử cảm nhận ánh sáng tạo thành. Cấu trúc của Camera nhìn chung có thể được chia thành 3 phần: + Phần quang học: Bao gồm các thấu kính hội tụ, các kính lọc và cơ cấu điều chỉnh khả năng thu nhận và hội tụ ánh sáng. + Phần cảm nhận ánh sáng: Là một màn nhận ảnh với các phần tử cảm nhận ánh sáng.
Đây là bộ phận quan trọng nhất của Camera với chức năng chuyển đổi quang - điện và tạo dòng tín hiệu Video. + Phần xử lý tín hiệu Video thu được và các mạch điều khiển đồng bộ hệ thống: Với các Camera số thì phần này có chức năng chuyển đổi tín hiệu ảnh sang dạng số. Hiện nay trong xử lý ảnh số, người ta thường dùng Camera 8 số CCD (Charge couple Device). Tên của Camera được gọi theo tên của bộ phận cảm nhận ảnh (Image Sensors).
CCD là một thiết bị mạch tổ hợp của các phần tử tổ hợp ánh sáng (photosensitive elements). Mỗi phần tử này sẽ cảm nhận cường độ ánh sáng tương ứng với một điểm ảnh( tức là một phần tử ảnh) và biến đổi chúng thành tín hiệu điện. Các phần tử này được bố trí thành mảng hai chiều. Như vậy mật độ của các phần tử này sẽ quyết định chất lượng thu nhận ảnh.
Ví dụ trong một Camera CCD độ phân giải cao thường là 486 dòng với 768 phần tử cảm quang được bố trí trong mắt lưới kích thước 10. * Scanner: Là một thiết bị thu nhận và chuyển đổi hình ảnh thu được thành ảnh đồ hoạ dạng lưới (raster graphic image). Các loại đối tượng dùng scanner thường là các văn bản, các bức ảnh hoặc tranh vẽ. Ngoài ra thì ngày nay còn có cả các scanner quét vân tay.
Cấu trúc của Scanner có thể kể đến 2 thành phần chính là: + Các phần tử cảm nhận ánh sáng: Được bố trí trên một băng với mật độ cao. Chúng thực hiện nhiệm vụ quét từng dòng ảnh và chuyển các giá trị nhận được thành các tín hiệu điện. Băng này cũng được gọi là CCD. + Phần cơ khí: Nhằm tạo ra chuyển động tịnh tiến của băng quét dọc theo vật cần xử lý.
Phần này cũng bao gồm các cơ cấu điều chỉnh hoạt động của thiết bị. Khi bắt đầu thực hiện thu nhận ảnh thì đối tượng sẽ được chiếu sáng bởi một nguồn sáng trong máy quét và bộ phận điều khiển sẽ thực hiện một chuyển động tịnh tiến để đưa băng quét CCD quét qua đối tượng một lượt và thu nhận ánh sáng phản xạ từ đối tượng. Máy Scanner được nối với máy tính và các tín hiệu thu nhận được sẽ được gửi về xử lý tại máy tính. Tại đây các mạch điều khiển xử lý và các phần mềm sẽ thực hiện chuyển đổi, sắp xếp các tín hiệu thu được thành các ảnh đồ họa.
9 Độ phân giải của Scanner một chiều phụ thuộc vào độ tích hợp (mật độ) của các phần tử CCD trên băng quét, chiều kia phụ thuộc vào bước chuyển động của hệ thống cơ học điều khiển băng quét. Thường thì độ phân giải của Scanner vào khoảng 600x600 dpi. Một số máy quét có độ phân giải cao có thể đến 1600 x1600 dpi. Quá trình số hoá ảnh: ảnh sau khi thu nhận cần được số hoá để lưu trữ và thực hiện các biện pháp xử lý ảnh.
Quá trình số hoá ảnh cũng tuân theo các nguyên tắc đã có như đối với các quá trình số hoá tín hiệu khác là chia thành 3 bước: lấy mẫu, lượng tử hoá và mã hoá. + Lấy mẫu: Chùm sáng phản xạ từ vật thể là liên tục về không gian và cường độ sáng nhưng ở các thiết bị thu nhận ảnh hiện nay thì bộ phận thu nhận tín hiệu (màn nhận ảnh CCD) là một mạng lưới rời rạc với mỗi ô mắt lưới là một phần tử cảm nhận cường độ ánh sáng. Như vậy chính bộ phận thu nhận tín hiệu đã thực hiện lấy mẫu tín hiệu cường độ sáng theo hai chiều. Mỗi phần tử CCD sẽ thực hiện lấy mẫu tại một điểm.
Như vậy, quá trình lấy mẫu đã thực hiện chuyển đổi một hàm liên tục trong không gian 2D (đối với Scanner) hoặc 3D (đối với Camera) về một hàm rời rạc cho bởi ma trận hai chiều. Để đảm bảo có thể tái tạo lại ảnh gốc từ sau ảnh lấy mẫu mà không mất thông tin (ảnh không bị sai khác) thì quá trình lấy mẫu cần tuân theo định lý lấy mẫu. + Lượng tử hóa (Quantization): Sau khi lấy mẫu, giá trị cường độ sáng của các phần tử của ma trận ảnh vẫn là các giá trị liên tục. Tuy nhiên trong kỹ thuật số thì ta cần những giá trị rời rạc.
Lượng tử hoá sẽ thực hiện quá trình rời rạc hoá giá trị cường độ của các điểm ảnh. 10 Một phương pháp lượng tử thường hay được sử dụng là lượng tử hoá đều. Tức là chia khoảng cách giữa mức cường độ lớn nhất và nhỏ nhất của ma trận lấy mẫu thành các khoảng đều nhau. Khoảng cách giữa các bước kề nhau là ∆g được gọi là khoảng cách lượng tử.
Các giá trị liên tục sẽ được quy tròn về các giá trị lượng tử. Việc quy tròn này sẽ gây ra sai số, sai số này phụ thuộc vào số mức lượng tử. Nếu số mức lượng tử càng lớn thì sai số này càng nhỏ và ngược lại. Tuy nhiên nếu số mức lượng tử lớn thì sẽ kéo theo chi phí tốn kém khi ta mã hoá.
+ Mã hoá: Trong thông tin số thì thông tin được lưu trữ và xử lý dưới dạng tín hiệu nhị phân gồm hai mức là 0 và 1. Bởi vậy sau khi lượng tử hoá các giá trị lượng tử hoá rời rạc phải được mã hoá bằng một tổ hợp các bit có giá trị 0,1. Mỗi bit có thể mã hoá được 2 giá trị mức lượng tử. Giả sử dùng N bit để mã hoá các mức lượng tử thì sẽ biểu diễn được 2 N mức lượng tử.
Như vậy nếu số mức lượng tử càng lớn thì càng yêu cầu dùng nhiều bit hơn để mã hoá. Đây là cái giá phải trả cho việc giảm sai số lượng tử hoá. Ví dụ đối với ảnh đen trắng ta chỉ cần dùng 1 bit để biểu diễn giá trị mức cường độ sáng còn đối với ảnh đa mức xám 256 mức thì cần 8 bit để biểu diễn giá trị cường độ sáng của mỗi phần tử ảnh. Đối với ảnh màu thì số bít cần để biểu diễn phần tử ảnh có thể là 8, 16, 24, 32 tuỳ theo số lượng màu cần biểu diễn.
Biểu diễn ảnh Hình ảnh khi đã được thu nhận bởi các phương pháp số hoá, thông qua các loại thiết bị kỹ thuật khác nhau cần phải được thể hiện ra bên ngoài. Đặc biệt trong quá trình xử lý những dữ liệu ảnh, việc đưa thông tin hình ảnh ra bên ngoài phụ thuộc chủ yếu vào cách lưu trữ và biểu diễn hình ảnh trong máy tính. Quá trình này phải thoả mãn hai yêu cầu trái ngược nhau, đó là tối ưu hoá bộ nhớ sử dụng và tối ưu hoá thời gian xử lý. Lưu trữ ảnh 11 ảnh số được lưu trữ dưới các file với các kiểu định dạng khác nhau như định dạng bitmap, định dạng TIF, định dạng GIF, định dạng PCX, định dạng JPG.ở đây ta không xét cụ thể các định dạng này mà chỉ xét một cách sơ bộ nhất về cấu trúc file lưu giữ thông tin ảnh.
Một file định dạng chuẩn thường có 3 phần là: - Phần Header: Chứa các thông tin xác định kiểu định dạng, các thông số mô tả chung về ảnh như chiều rộng, chiều cao của ảnh, độ phân giải, số màu. - Phần bảng màu: Xác định các giá trị màu chuẩn cho các điểm ảnh. - Phần dữ liệu ảnh: Lưu giữ các thông tin về các điểm ảnh. Thường được lưu giữ theo thứ tự tương ứng với điểm ảnh.
Việc nén dữ liệu ảnh nếu có sẽ được thực hiện ở phần này. Trong các định dạng đã kể ở trên thì định dạng bitmap tương đối thuận tiện trong việc xử lý và hiển thị cho nên định dạng này hay được sử dụng mặc dù file ảnh có kích thước khá lớn. Khôi phục ảnh * Nhiễu và mô hình nhiễu ảnh được coi là một miền đồng nhất về mức xám, tức là các điểm ảnh lân cận có sự biến đổi liên tục về mức xám.