MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Môi trƣờng là một trong những vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới đang rất quan tâm tới. Hiện nay, môi trƣờng đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng vì sự phát triển nhanh của công nghiệp của tất cả các quốc gia trên thế giới và sự tàn phá môi trƣờng của con ngƣời. Các nhà máy, công trình, xƣởng sản xuất đƣợc xây dựng hàng ngày thải ra lƣợng khí thải, chất thải nguy hại dẫn đến môi trƣờng bị ô nhiễm.
Theo thống kê nhiệt độ trên toàn thế giới trong thế kỷ XIX đã tăng 0,8C. Thế kỷ XX tăng 0,6 0,2C. Theo các mô hình nghiên cứu dự báo nhiệt độ Trái Đất trong thế kỷ XXI sẽ tăng thêm 1,1 6,4C [15]. Nhiệt độ môi trƣờng thay đổi sẽ dẫn tới các hiện tƣợng thời tiết cực đoan nhƣ hạn hán, thiên tai, lũ lụt… Dự báo thời tiết nói chung và nhiệt độ môi trƣờng nói riêng có ý nghĩa rất lớn tới sự sản xuất, đời sống sinh hoạt của con ngƣời.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng mô hình mạng lai gồm một khối tuyến tính và một mạng nơ-ron phi tuyến mắc song song để thử nghiệm dự báo nhiệt độ tại khu vực Thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng. Mục đích nghiên cứu luận văn, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu thực hiện hai vấn đề chính trong mô hình thu thập, xử lý dự báo nhiệt độ môi trƣờng: Xây dựng mô hình dự báo thông số nhiệt độ dựa trên kết quả đo trong quá khứ từ số liệu của các trạm khí tƣợng trong địa phƣơng đặt thiết bị đo. Nghiên cứu, áp dụng mạng nơ -ron trong xây d ựng các mô hình dự báo phi tuyến. Đề xuất mô hình dự báo nhiệt độ cho khu vực Thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng.
Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu và xây dựng mô hình ƣớc lƣợng thông số môi trƣờng dựa trên các kết quả đo trong quá khứ của các khu vực lân cân. Xây dựng mô hình dự báo nhiệt độ môi trƣờng dựa trên kết quả đo trong quá khứ Nghiên cứu về một số mô hình dự báo thông số môi trƣờng từ đó đề xuất mô hình dự báo thông số nhiệt độ. viii Tính toán mô phỏng để thử nghiệm độ chính xác của mô hình toán học. Nội dung trong luận văn Nội dung của luận văn đƣợc chia thành bốn chƣơng có nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về phƣơng pháp đo, dự báo và giới thiệu một số mô hình dự báo nhiệt độ môi trƣờng đang đƣợc ứng dung trong nƣớc và quốc tế.
Chƣơng 2: Giới thiệu về mô hình lai, các phƣơng pháp trích chọn đặc tính đầu vào của mô hình, xây dựng khối tuyến tính và phi tuyến cho mô hình dự báo. Chƣơng 3: Dựa vào những phân tích về ƣu và nhƣợc điểm của mô hình lai đƣợc phân tích và lựa chọn ở chƣơng 2 tác giả xây dựng mô hình dự báo nhiệt độ môi trƣờng với việc xác định thông số đầu vào, đầu ra. Luận văn sử dụng thuật toán SVD để xây dựng hệ số của khối dự báo khối tuyến tính, mạng nơ- rôn nhân tạo để xây dựng khối phi tuyến trong mô hình dự báo. Chƣơng 4: Từ những phân tích ở chƣơng 3, nội dung chƣơng 4 sẽ trình bày về mô hình lai trong dự báo nhiệt độ ngắn hạn cho khu vực Thị xã Chí Linh, Hải Dƣơng.
Bộ số liệu nghiên cứu đƣợc lấy trong thời gian từ 1/2010 đến tháng 12/2015. Kết quả đo này đƣợc dùng để làm mẫu tín hiệu của nhiệt độ cao nhất và thấp nhất trong ngày. Từ đó so sánh với mô hình dự báo đƣợc đề xuất. Kết luận: Trình bày kết quả của luận văn đạt đƣợc và hƣớng phát triển tiếp theo của luận văn.
Phần phụ lục diễn giải cụ thể các ví dụ đƣợc đƣa ra trong luận văn. ix CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐO VÀ DỰ BÁO NHIỆT ĐỘ MÔI TRƢỜNG 1. Giới thiệu chung Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều mô hình thu thập, xử lý và dự báo thông số môi trƣờng nói chung và nhiệt độ nói riêng [1, 2, 3, 15, 16] đƣợc đƣa vào ứng dụng trong dự báo nghiệp vụ tại nhiều trung tâm dự báo thời tiết. Các phƣơng pháp dự báo thời tiết đƣợc chia làm bốn nhóm phƣơng pháp chính: - là phƣơng pháp thu thập số liệu tại trạm khí tƣợng tr diện rộng có thể ở cả một quốc gia hoặc trên nhiều quốc gia liền kề nhau.
Từ các phƣơng pháp thu thập và xây dựng thành bản đồ thời tiết, các chuyên gia thời tiết sẽ kết hợp bản đồ này và các thông tin bổ trợ của các mô hình dự báo nhƣ mô hình số, ảnh mây vệ tinh… để tham chiếu đƣợc các trạng thái thời tiết ở các thời điểm trong tƣơng lai. Phƣơng pháp này không đòi hỏi các điều kiện tốt về số liệu và công cụ tính toán, nhƣng lại có hạn chế là mang tính chủ quan cao, dựa nhiều vào kinh nghiệm của các chuyên gia dự báo. Việc phân tích và dự báo một lƣợng dữ liệu thời tiết lớn và có nhiều biến đổi sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, phƣơng pháp này vẫn đang đƣợc áp dụng chủ yếu tại Việt Nam.
- ng kê[2] là phƣơng pháp đơn giản nhất trong việc dự báo cá yếu tố bất thƣờng so với khí hậu trung bình. Quy mô dự báo theo tháng hoặc theo mùa. Phƣơng pháp này liên kết các đặc tính khí hậu ở hiện tại với các mô hình thời tiết trong tƣơng lai. Những yếu tố bất thƣờng ở đây là những yếu tố trong thời tiết biến đổi chậm và có quy mô lớn của khí hậu tồn tại trong nhiều tháng và làm thay đổi hình thế hoàn lƣu trung khí quyển.
Từ đó các sai lệch đƣợc so sánh với trạng thái trung bình của khí hậu tại nơi thống kê. Phƣơng pháp này có ƣu điểm là mang tính chất khách quan, đơn giản, không đòi hỏi các điều kiện về số liệu ban đầu cũng nhƣ công cụ tính toán và dễ xây dựng mô hình cũng nhƣ sử dụng trong nghiệp vụ. Tuy nhiên, phƣơng pháp này có đặc điểm là coi những quá trình xảy ra ở hiện tại và tƣơng lai đều tuân theo các quy luật thu đƣợc từ tập số liệu trong quá khứ, dẫn tới kết quả của mô hình dự báo phụ thuộc nhiều vào độ dài tập mẫu. Phƣơng pháp này không thể dự báo tức thời các yếu tố đột biến nhanh nhƣ việc chuyển dịch nhiệt độ tức thời từ nóng sang lạnh và ngƣợc lại… Và một nhƣợc điểm cuối cùng là bộ số liệu sử dụng quá ngắn hoặc qua dài cũng sẽ gây ra hiện tƣợng mất ổn định thống kê và dự báo không chuẩn xác.
1 - tr (ng lc hc khí quyn): Hƣớn phƣơng pháp số trị trong dự báo là sử dụng các mô hình hoàn lƣu chung trong khí quyển. Bƣớc đầu tiên là việc dự báo sự phát triển của nhiệt độ mặt biển SST (Sea Surface Temperature) trong vùng nhiệt đới vùng thuộc vùng biển Thái Bình Dƣơng. Hình thế dự báo đƣợc kết hợp với mô hình hoàn lƣu chung khí quyển để dự báo thời tiết toàn cầu. Phƣơng pháp này dựa trên việc giải các phƣơng trình toán học mô tả trạng thái của khí quyển để đƣa ra đƣợc các yếu tố thời tiết trong tƣơng lai, cho phép dự báo các trƣờng khí tƣợng thông qua việc tích phân các phƣơng trình mô tả động lực học khí quyển một cách khách quan, tính đƣợc các biến khí tƣợng một cách định lƣợng.
Phƣơng pháp dự báo này đƣợc áp dụng với dự báo thời tiết dài hạn theo tháng hoặc theo mùa và có quy mô khu vực và toàn cầu. Khu vực đƣợc phát triển và ứng dụng mạnh mẽ trong dự báo thời tiết ở Mỹ, Úc, Nhật Bản, Liên bang Nga, các nƣớc Châu Âu,. Dự báo tổng hợp là mộ hƣớng mới đang đƣợc phát triển rất mạnh tại các trung tâm dự báo khí tƣợng nghiệp vụ trên thế giới. Với việc coi khí quyển có thể đƣợc cảm nhận và mô phỏng (bởi các kết quả quan trắc và các mô hình số trị) có bản chất là một hệ thống tập hợp thống kê thay vì là một hệ xác định, do đó, đặc trƣng thống kê của tập hợp các dự báo khác nhau sẽ cho kết quả tin cậy hơn của từng dự báo riêng biệt.
Một số mô hình dự báo nhiệt độ môi trƣờng ứng dụng mạng nơ-ron nhân tạo Việc ứng dụng mạng nơ-rôn nhân tạo vào các bài toán dự báo là một trong những hƣớng phát triển tƣơng đối mới. Hƣớng phát triển này đã và đang là những vấn đề nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nƣớc và quốc tế. Sau đây là một số mô hình tiêu biểu ứng dụng mạng nơ-rôn vào mô hình dự báo: 1. Mô hình dự báo thời tiết sử dụng mạng nơ-rôn truyền thẳng.
Theo bài bài báo “d nhóm tác giả đã sử dụng mô hình dự báo dựa trên mạng truyền thẳng nhiều lớp (Multi Layer Perceptron) để xây dựng mô hình dự báo Bài toán dự báo dựa trên 6 thông số thời tiết sau: 1 Nhiệt độ: đơn vị là °C. 2 2 Độ ẩm: tính theo %. 4 Hƣớng gió: đơn vị là độ. 5 Tốc độ gió: đơn vị là km/h.
6 Mây: tính theo % (tùy theo nhiều mây hay ít). Dữ liệu đầu vào là các thông số thời tiết của một ngày. Dữ liệu đầu ra là các thông số thời tiết của ngày tiếp theo. Dữ liệu đƣợc huấn luyện trong 3 tháng (6,7 và 8 năm 2008) tại trạm khí tƣợng thủy văn Vĩnh Phúc.
Mạng nơ-rôn đƣợc sử dụng vơi 3 lớp ẩn: lớp đầu vào, lớp ẩn, và lớp đầu ra. Mục tiêu hƣớng đến của mô hình là dự báo 6 thông số thời tiết: Nhiệt độ, độ ẩm, lƣợng mƣa, hƣớng gió, tốc độ gió và mây. Sử dụng thuật toán lan truyền ngƣợc. Nhóm tác giả đã đƣa ra 4 thử nghiệm để đƣa ra bộ thông số mạng ƣu việt nhất với hằng số học 0,8, số nơ-rôn lớp ẩn là 18, khoảng khởi tạo trọng số 0, 7 0, 7 thời gian huấn luyện trung bình là 9 tiếng.
Mô hình dự báo nhiệt độ môi trƣờng thủ đô Hà Nội sử dụng mạng nơ-rôn truyền thẳng. Tƣơng tự nhƣ mô hình dự báo đƣợc tóm tắt ở mục 1.1, mô hình dự báo nhiệt độ môi trƣờng thủ đô Hà Nội cũng lựa chọn sử dụng mạng truyền thẳng nhiều lớp nhƣng kết hơp thêm với phƣơng pháp hồi quy tuyến tính.