Đặt vấn đề Ô nhiễm không khí hiện nay không chỉ là vấn đề của một quốc gia riêng lẻ mà là vấn đề đáng báo động toàn cầu. Dữ liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Health Organization) cho thấy cứ mỗi 10 ngƣời thì có 9 ngƣời đang hít phải không khí bị ô nhiễm nặng. Theo ƣớc tính, mỗi năm ô nhiễm không khí lấy đi tính mạng của gần bảy triệu ngƣời. Các chất ô nhiễm trong không khí có thể xâm nhập sâu vào phổi, hệ thống tim mạch và gây ra nhiều căn bệnh từ nhẹ nhƣ ho, kích ứng hô hấp đến những căn bệnh thậm chí rất nặng nhƣ đột quỵ, ung thƣ phổi [1].
Quá trình phát triển đô thị và công nghiệp hóa ở các quốc gia đều kéo theo các vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng, trong đó có ô nhiễm không khí. Theo kết quả báo cáo năm 2019 của Cơ quan năng lƣợng quốc tế (IEA - International Energy Agency), lƣợng khí CO2 phát thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và hoạt động giao thông vận tải chiếm lần lƣợt 39.0% tổng lƣợng khí CO2 phát thải toàn cầu [2]. Các phƣơng tiện giao thông cơ giới sử dụng nhiên liệu hóa thạch nhƣ xăng, dầu diesel sản sinh nhiều loại khí thải SO2, NO2, CO, PM10/PM2.5 trong quá trình đốt nhiên liệu, thậm chí rò rỉ nhiên liệu trong khi vận hành gây phát sinh Benzen, Toluen và các hợp chất dễ bay hơi khác nhƣ ethylbenzene, xylenes. Tại Việt Nam, ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn ngày càng gia tăng do chịu nhiều ảnh hƣởng từ các hoạt động giao thông vận tải cũng nhƣ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội.
Khí thải từ các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ nhƣ xe ô tô và xe gắn máy luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lƣợng khí thải gây ô nhiễm. Tính đến đầu năm 2020, toàn quốc có khoảng 45 triệu xe máy và gần 4 triệu xe ô tô đang lƣu hành. Trong đó, Hà Nội có 6 triệu xe máy, thành phố Hồ Chí Minh có 8 triệu xe máy [4]. Trong số các phƣơng tiện giao thông đang lƣu hành, nhiều phƣơng tiện đã cũ, quá hạn sử dụng và không đƣợc bảo dƣỡng định kỳ nên hiệu suất đốt cháy nhiên liệu thấp gây phát thải các chất ô nhiễm không khí ngày càng nhiều.
Trong khoảng thời gian thực hiện cách ly xã hội để phòng dịch bệnh COVID-19, giá trị các thông số PM2.5 và CO giảm rõ rệt so với khoảng thời gian cùng kỳ các năm trƣớc càng cho thấy sự ảnh hƣởng của các nguồn phát thải từ giao thông có ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng chung của khu vực [4]. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng Việt Nam, giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2019 nhìn chung có nồng độ bụi PM2.5 cao hơn so với giai đoạn từ 2010-2017. Chỉ số chất lƣợng không khí tại hai thành phố lớn nhất cả nƣớc là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều địa điểm nằm ở mức xấu, với chỉ số AQI nằm trong khoảng 150- 200, thậm chí đôi lúc cao hơn 200 (mức rất xấu) [4]. Các hạt bụi mịn kích thƣớc nhỏ nhƣ 9 PM2.5 lơ lửng trong không khí nếu thẩm thấu vào đƣờng hô hấp sẽ gây ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe con ngƣời [5].
Trong một nghiên cứu kết hợp giữa Viện Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế (Cộng hòa Áo) và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (Việt Nam) về quản lý chất lƣợng không khí tại miền Bắc Việt Nam (năm 2015) cho thấy: giao thông đƣờng bộ là nguồn phát thải PM2.5 lớn tại khu vực Hà Nội khi đóng góp đến gần 25% lƣợng khí ô nhiễm.5 cao nhất (lên đến 55 μg/m3) tập trung tại khu vực đô thị Hà Nội và giảm dần ở các khu vực lân cận. Nghiên cứu trên cũng cho thấy có đến 20 triệu ngƣời tiếp xúc với nồng độ PM2.5 cao hơn tiêu chuẩn ban hành, đặc biệt là ở thành phố Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hƣng Yên (Hình 1.1 Phân bố dân cƣ tiếp xúc với PM2.5 khu vực miền Bắc Việt Nam (2015) Trƣớc thực trạng chất lƣợng không khí luôn ở ngƣỡng đáng lo ngại, nhu cầu thông tin về chỉ tiêu chất lƣợng không khí luôn là vấn đề đáng quan tâm với ngƣời dân, đặc biệt với những ngƣời có thể trạng yếu. Nắm bắt đƣợc thông tin chất lƣợng không khí sẽ giúp chủ động hơn cho các hoạt động ngoài trời và các sinh hoạt nói chung khác. Các nguồn thông tin chất lƣợng không khí hiện nay đang ở mức ghi nhận kết quả hiện tại.
Để giúp chủ động hơn nữa trong việc lên kế hoạch cho các hoạt động và sinh hoạt hằng ngày, thông tin dự báo chất lƣợng không khí cho tƣơng lai là rất cần thiết. Trƣớc nhu cầu cấp thiết nhƣ trên, đề tài “Xây dựng mô hình dự báo chất lƣợng không khí” đƣợc tiến hành, với mục đích bƣớc đầu xây dựng mô hình đánh giá chất lƣợng không khí ở mức chấp nhận đƣợc, tiến tới xây dựng hệ thống dự báo thông tin chất lƣợng không khí hoàn chỉnh trong tƣơng lai. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về bài toán dự báo chất lƣợng không khí, xây dựng và đánh giá khả năng dự báo chất lƣợng không khí sử dụng các mô hình toán học truyền thống cũng nhƣ các mô hình dự báo sử dụng mạng nơ ron nhân tạo.
Từ đó chọn lựa mô hình phù hợp để dự báo chất lƣợng không khí trong tƣơng lai gần. Ngoài ra, nghiên cứu cũng thực hiện cải tiến mô hình hiện có để có thể sử dụng nhiều loại dữ liệu đầu vào khác nhau phục vụ cho nhu cầu dự báo chất lƣợng không khí. Để đạt đƣợc mục tiêu trên, luận văn thu thập dữ liệu từ nguồn thông tin khách quan, tiến hành các bƣớc làm sạch dữ liệu (loại bỏ dữ liệu dƣ thừa, xử lý dữ liệu thiếu .) và thực hiện các kiểm định cần thiết. Các mô hình dự đoán khác nhau đƣợc tìm hiểu và đề xuất bao gồm mô hình tự hồi quy, ARIMA, Holt-Winters cùng nhiều mô hình học máy khác nhau (mạng nhân tạo nhiều lớp ANN, mạng hồi quy RNN và mạng LSTM).
Từ đó đề xuất mô hình phù hợp nhất trong dự báo chất lƣợng không khí. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Chỉ số AQI chính theo giờ (main AQI) là đối tƣợng đƣợc tập trung khảo sát trong luận văn này. Đây là chỉ số cơ bản và chủ yếu của toàn bộ các đánh giá chất lƣợng không khí tại Việt Nam và tại nhiều quốc gia khác. Chỉ số này có cách tính toán khác biệt tùy thuộc vào quy chuẩn của từng quốc gia, nên để phù hợp với thực tiễn đề tài, toàn bộ các chỉ số AQI xem xét trong luận văn đều sử dụng chung theo quy chuẩn của Việt Nam (theo quyết định 1459/QĐ-TCMT).
Nghiên cứu đƣợc thực hiện với tập dữ liệu đầu vào thu thập tại các trạm quan trắc có phân bố vị trí địa lý tại khu vực Hà Nội, trong khoảng thời gian khảo sát từ ngày 19/11/2021 đến ngày 19/12/2021. Đây là một trong hai thành phố có mật độ dân số cao nhất cả nƣớc với lƣu lƣợng xe cộ dày đặc, thích hợp cho việc đánh giá các mô hình chất lƣợng không khí thuộc khu vực đô thị. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, đề tài sẽ thu thập và tổng hợp một bộ dữ liệu về nồng độ chất gây ô nhiễm tại địa phƣơng. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu sau này trong lĩnh vực môi trƣờng cũng nhƣ các đề tài xây dựng mô hình toán học khác.
11 Với nguồn dữ liệu đầu vào thu thập từ thực tiễn và đáng tin cậy, các mô hình có đƣợc từ đề tài sẽ cho kết quả khách quan và góp phần hỗ trợ cho các công tác quản lý môi trƣờng tại khu vực nghiên cứu, cung cấp phƣơng pháp tính toán chỉ số chất lƣợng không khí có độ chính xác tốt, góp phần hỗ trợ việc đánh giá chất lƣợng không khí cho hiện tại và tƣơng lai gần. Góp phần cung cấp thêm thông tin về hiện trạng chất lƣợng không khí tại Việt Nam, phục vụ cho các nhà quản lý đƣa ra các định hƣớng hạn chế tác động của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con ngƣời 1. Cấu trúc luận văn Cấu trúc luận văn đƣợc chia thành 5 chƣơng, bao gồm: Chƣơng Nội dung 1 Giới thiệu tổng quan về đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2 Cơ sở lý luận 3 Lƣợc đồ nghiên cứu, phƣơng pháp thực hiện và xây dựng mô hình 4 Kết quả, nhận xét kết quả trên tập huấn luyện – tập kiểm tra và kết luận 5 Đánh giá kết quả đạt đƣợc và hƣớng phát triển tƣơng lai 12 CHƢƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các chỉ tiêu chất lƣợng không khí và phƣơng thức tính 2.
Các chỉ tiêu chất lƣợng không khí Tại Việt Nam, căn cứ vào quy chuẩn quốc gia hiện đang có hiệu lực (QCVN 05:2013/BTNMT) [7], các thông số đƣợc quy định để đánh giá chất lƣợng không khí xung quanh bao gồm: Sulfur dioxide (SO2), Carbon monoxide (CO), Nitrogen dioxide (NO2), Ozone (O3), Tổng bụi lơ lửng (TSP - total suspended particulates - tổng các hạt bụi có đƣờng kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 100 μm), Bụi PM10 (particulate matter – tổng các hạt bụi lơ lửng có đƣờng kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 10 μm), Bụi PM2,5 (tổng các hạt bụi lơ lửng có đƣờng kính khí động học nhỏ hơn hoặc bằng 2,5 μm), Chì (Pb) – Không dùng để tính AQI trong 1459/QĐ-TCMT Bảng 2.1 Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí (μg/m3) STT Thông số Trung Trung Trung Trung bình 1 giờ bình 8 giờ bình 24 giờ bình năm 1 SO2 350 - 125 50 2 CO 30 000 10 000 - - 3 NO2 200 - 100 40 4 O3 200 120 - - 5 Tổng bụi lơ 300 - 200 100 lửng (TSP) 6 Bụi PM10 - - 150 50 7 Bụi PM2,5 - - 50 25 8 Pb - - 1,5 0,5 Dấu (-): Không quy định. Trung bình x giờ: giá trị trung bình của các giá trị đo đƣợc trong khoảng thời gian x giờ liên tục. Sulfur Dioxide (SO2) Sulfur dioxide là một loại khí độc hại phát sinh chủ yếu do tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch hoặc bởi các hoạt động công nghiệp. Bệnh nhân với các vấn đề về phổi, ngƣời già và trẻ nhỏ có nguy cơ bị tổn thƣơng cao hơn khi tiếp xúc với loại khí này.