phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng. Trong chƣơng 1, chúng tôi tìm hiểu tổng quan chữ Nôm, trong đó tập trung các yếu tố liên quan đến nhận dạng trên cơ sở tách gốc từ nhƣ cấu trúc chữ Nôm, số lƣợng từ Nôm không có hình trong bộ chữ tƣợng hình khác. Trong chƣơng 2, gồm những nội dung về bài toán nhận dạng chữ tƣợng hình nói chung và bài toán nhận dạng chữ Nôm nói riêng, các phƣơng pháp nhận dạng chữ Nôm đã đƣợc nghiên cứu. Trong chƣơng 3, chúng tôi tập trung tìm hiểu, nghiên cứu phƣơng pháp tách gốc ký tự trong chữ tƣợng hình để từ đó áp dụng cho nhận dạng chữ Nôm.
Để thực hiện đánh giá hiệu quả của phƣơng pháp nhận dạng chữ Nôm dựa trên gốc từ, trong chƣơng 4, chúng tôi đã trình bày các bƣớc tiến hành xây dựng thực nghiệm và đánh giá. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ CHỮ NÔM 1. Giới thiệu về chữ Nôm 1. Lịch sử hình thành và phát triển Trong suốt hàng ngàn năm, kể từ đầu thời Bắc thuộc, chữ Hán đƣợc sử dụng ở Việt Nam nhƣ một văn tự chính thống.
Ngƣời Hán ngày càng mở rộng quy mô sử dụng chữ Hán ở Giao Châu, lúc đầu trong cơ quan hành chính giữa một số ngƣời Hán và ngƣời Việt trong tầng lớp thống trị, sau mở rộng ra một số trƣờng học. Sau thời Sĩ Nhiếp, chữ Hán đƣợc khuyến khíc học tập trong mọi tầng lớp. Nhiều trí thức bình dân đã có thế dùng chữ Hán để ghi chép về địa chí, phong tục, hƣơng ƣớc các vùng. Cùng với tình hình này , việc ghi tên ngƣời, tên đất địa phƣơng cũng trở thành một nhu cầu.
Đầu tiên ngƣời ta dùng chữ Hán để ghi tên Việt, nhƣng giữa cách đọc một âm tiết Hán với một âm tiết Việt lúc ấy có một khoảng cách nhất định, nên âm Hán chỉ có thể đọc na ná âm Việt. Nhƣ vậy giữa chữ Hán ghi âm Hán với chữ Hán ghi na ná âm Việt đã có sự khác nhau về chất, nó ghi lại hệ thống ngữ âm khác nhau, hai ngôn ngữ khác nhau. Lần đầu tiên, chữ Hán đã đƣợc dùng để ghi âm Việt và nhƣ vậy là đã xuất hiện những chữ Nôm ban đầu. Cùng với sự phát triển của nhu cầu ghi chép nền văn hóa Việt, chữ Nôm cũng ngày càng phát triển và tự hoàn thiện để việc ghi chép tiếng Việt đƣợc hữu hiệu hơn.
Trải qua thời gian phát triển theo lịch sử khi kết thúc thời kỳ chịu ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939 chữ Nôm đã đƣợc lựa chọn trở thành chữ quốc ngữ nhƣ một tất yếu. Trong một thời gian dài khoảng 10 thế kỷ hầu hết các tài liệu trong các lĩnh vực văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo và hành chính đƣợc viết bằng chữ Nôm. Đặc biệt trong chiều đại nhà Tây Sơn (từ năm 1788 đến 1802) chữ Nôm đƣợc sử dụng trong toàn bộ văn kiện hành chính [7]. Từ thế kỷ 15 với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, kế đến thế kỷ 16 với Bạch Vân Am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ Nôm đã chứng tỏ có nhiều khả năng diễn tả không những tình cảm mà còn tƣ tƣởng của ngƣời Việt.
Chỉ tính riêng ở lĩnh vực văn học, chữ Nôm đã có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên một nền văn học Việt nam rực rỡ xuyên suốt nhiều thế kỷ. Từ chữ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nôm, nền văn học Việt nam sinh ra ba thể loại độc đáo của riêng Việt nam là Truyện thơ Nôm Lục Bát, Ngâm Khúc (song thất lục bát) và Hát Nói (trong ca trù). Sự sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá. Từ thế kỷ 16 các giáo sỹ truyền giáo từ châu Âu đến Việt Nam để truyền giáo.
Để thuận lợi cho việc truyền giáo họ đã sáng tạo ra một loại ngôn ngữ dựa trên chữ Latin nhƣng phát âm Việt. Đến Thế kỷ 19 khi pháp đô hộ Việt Nam, để thuận lợi cho việc cai trị, thực dân Pháp đã tuyên truyền khuyến khích sử dụng chữ quốc ngữ, từ đây chữ viết dựa theo chữ Latin mà ngày nay chúng ta gọi là chữ Quốc ngữ dần thay thế chữ Nôm. Thực tế là hiện nay, trên thế giới có chƣa đến 100 ngƣời đọc đƣợc chữ Nôm. Một phần to tát của lịch sử Việt Nam nhƣ thế nằm ngoài tầm tay của trên 90 triệu ngƣời nói tiếng Việt.
Cấu trúc chữ Nôm Xét về cấu trúc chữ Nôm thì có nhiều cấu trúc do nhiều nhà nghiên cứu chữ Nôm đƣa ra.1 Sơ đồ cấu trúc chữ Nôm của Dương Quảng Hàm - Sơ đồ cấu trúc chữ Nôm của Đào Duy Anh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Sơ đồ cấu trúc chữ Nôm của Đào Duy Anh Xét theo kiến trúc chữ, theo [2] qua nghiên cứu chữ Nôm từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 nhà nghiên cứu Đặng Đức và Trần Xuân Ngọc Lan nhận thấy có 9 kiểu đồ án kiến trúc thƣờng gặp: Hình 1. 9 kiểu đồ hình kiến trúc chữ Nôm Ở đồ hình 1, chữ thuộc đồ hình này chỉ gồm một hình tố âm hoặc một hình tố nghĩa. Chữ thuộc đồ hình 2 gồm hai hình tố âm và nghĩa hợp lại, hình tố âm ở trên, hình tố nghĩa ở dƣới, hoặc ngƣợc lại hình tố âm ở dƣới hình tố nghĩa ở trên. Đây gọi là cấu trúc trên dƣới.
Chữ thuộc đồ hình 3 gồm hai hình tố âm và nghĩa hợp thành, hình tố âm viết bên trái hình tố nghĩa hoặc ngƣợc lại. Đây gọi là cấu trúc phải trái. Chữ thuộc đồ hình 4 cũng gồm hai hình tố âm và nghĩa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Hình tố âm bao bên trái bên trên và bên phải hình tố nghĩa hoặc ngƣợc lại hình tố nghĩa là hình tố bao.
Gọi là cấu trúc bao trái bên phải. Chữ thuộc đồ hình 5 cũng là cấu trúc bao nhƣng ngƣợc hƣớng với đồ hình 4. Hình tố âm bao trái dƣới và phải hình tố nghĩa. Kiểu đồ hình này rất ít gặp.
Chữ thuộc đồ hình 6 cũng là cấu trúc bao gồm hai hình tố âm và nghĩa. Hình tố âm bao bên trên, bên trái và bên dƣới hình tố nghĩa hoặc ngƣợc lại hình tố nghĩa là hình tố bao. Đây gọi là cấu trúc bao trên trái dƣới. Chữ thuộc đồ hình 7 gồm hai hình tố âm và nghĩa.
Hình tố âm bao bên phải và bên trên hình tố nghĩa hoặc ngƣợc lại hình tố nghĩa bao bên phải và bên trên hình tố âm - gọi là kiểu cấu trúc bao phải trên. Chữ thuộc đồ hình 8 cũng gồm hai hình tố âm và nghĩa. Hình tố âm bao bên trái và bên dƣới hình tố nghĩa hoặc ngƣợc lại hình tố nghĩa bao hình tố âm gọi là cấu trúc bao trái dƣới. Chữ thuộc đồ hình 9 gồm hình tố âm và hình tố nghĩa.
Hình tố âm bao bên trái và trên hình tố nghĩa, hoặc ngƣợc lại hình tố nghĩa bao hình tố âm. Đây gọi là cấu trúc bao trái trên. Tin học hóa và ứng dụng chữ Nôm Có lẽ đối với không ít ngƣời thì chữ Nôm là thứ văn tự của quá khứ, và ngày nay chỉ cần đào tạo một số chuyên gia để tiếp xúc với nó, với các văn bản Hán Nôm do ngƣời xƣa để lại, là đủ rồi. Do đó, việc tin học hoá chữ Nôm phải chăng là cần thiết phải đặt ra? Câu hỏi này trên thực tế đã đƣợc nêu ra hơn mƣời năm trƣớc đây, và đến nay, đã có đƣợc những bƣớc đi ban đầu của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực Hán Nôm và lĩnh vực Công nghệ Thông tin theo hƣớng khẳng định sự cần thiết của Tin học hoá chữ Nôm nhằm đáp ứng một loạt các nhu cầu mới trong đời sống xã hội ngày nay.
Theo [3] có nhiều khía cạnh trong vấn đề tin học hoá và ứng dụng chữ Nôm qua công nghệ thông tin. Tại đây, tác giả chỉ xin đề cập đến một vài khía cạnh có liên quan mang tính chất nghiên cứu cơ bản thuộc lĩnh vực ngữ văn Hán Nôm mà thôi. (a) Bƣớc đi đầu tiên trong tiến trình tin học hoá chữ Nôm là phải xác lập kho chữ Nôm và thực hiện việc mã hoá chúng. Từ hơn mƣời năm qua, các chuyên gia ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm cùng phối hợp với các chuyên gia tin học trong và ngoài nƣớc, đã thực hiện công việc này trong chƣơng trình chung của Nhóm công tác về chữ biểu ý (IRG - Ideographic Raporteur Group) thuộc tổ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chức ISO quốc tế.
Đến cuối năm 2000, trong bảng tổng hợp kho chữ biểu ý của nhóm IRG đã có mặt 9229 chữ của Việt Nam [3], với mã quốc tế Unicode. Khi xác lập các danh sách chữ Nôm để cung cấp cho IRG, các chuyên gia Việt Nam đã tuân theo hai nguyên tắc cơ bản: Một là, tôn trọng thực trạng đa dạng của chữ Nôm thể hiện qua các văn bản khác nhau, chỉ bƣớc đầu thực hiện chuẩn hoá các nét bút và hình thể các thành tố của đơn vị chữ mà thôi. Hai là, ƣu tiên cung cấp những chữ Nôm "thuần Việt". Trong số những chữ Nôm thuần Việt, cũng có một số ngẫu nhiên trùng hình với chữ Hán và các hệ văn tự khác trong khu vực.
Hiện nay còn có danh sách gồm 2286 chữ nữa (trong đó có cả chữ Nôm Tày) đang đƣợc đăng ký để cấp mã quốc tế [3]. Trong các tập chữ Nôm kể trên, vẫn có thể phát hiện một số ít trƣờng hợp có sự lầm lẫn về hình chữ và không ăn khớp giữa hình chữ với ký mã của chữ và cần đƣợc tiếp tục điều chỉnh. (b) Công việc tiếp theo là thực hiện việc nghiên cứu mối tƣơng quan giữa hình chữ và âm đọc, xác lập tƣơng đối đầy đủ quan hệ đối ứng giữa hai bên. Trên cơ sở đó mới có thể tạo ra các phần mềm chữ Nôm đƣợc cài đặt theo khoá âm đọc (qua chữ Quốc ngữ).
Hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng đang thực hiện chƣơng trình nghiên cứu đối chiếu này. (c) Để có thể vẽ phông chữ Nôm, cần xúc tiến việc nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm theo các thành tố trực tiếp, đồng thời thực hiện chuẩn hoá các thành tố đó theo các phong cách viết chữ khác nhau. Từ đó xác lập sự tƣơng đồng và tƣơng dị giữa các thành tố về hình thể, về vị trí trong thể thức ô vuông của chữ Nôm.