Chương 1:Cơ sở lý thuyết về thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại. Chương 2: Mô hình nghiên cứu và phương pháp luận. Chương 3: Dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Chương 4:Kết luận và hàm ý chính sách.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ THÂM HỤT THƢƠNG MẠI Chương này dựa trên cơ sở lý thuyết về kinh tế học để đưa ra các khái niệm chung nhất về các biến thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại, lạm phát, thâm hụt kép được đề cập trong đề tài nghiên cứu, bên cạnh đó cũng trình bày mối quan hệ giữa các biến với nhau và ảnh hưởng của các biến tới các vấn đề kinh tế vĩ mô, xem xét các nghiên cứu trước đây. Thâm hụt ngân sách và các vấn đề kinh tế vĩ mô 1. Khái niệm thâm hụt ngân sách Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách.
Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình. Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu, phân phối lại thu nhập của nhà nước. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Theo Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm: - Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; - Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; - Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; - Các khoản viện trợ; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
6 Thu NSNN không bao gồm các khoản thu mang tính chất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại. Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.
Căn cứ vào mục đích, nội dung chi ngân sách được chia làm 2 loại: Chi đầu tƣ của ngân sách nhà nước là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác. Chi tiêu dùng của ngân sách nhà nước là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh. Thâm hụt ngân sách và các vấn đề kinh tế vĩ mô Mối quan hệ thâm hụt ngân sách và các biến vĩ mô là một vấn đề luôn được bàn luận khá nhiều trong thời gian gần đây. Có nhiều ý kiến cho rằng thâm hụt ngân sách chính là nguyên nhân gây ra tình trạng lạm phát liên tục tăng cao và thâm hụt thương mại ở mức cao.
Để xem xét mối quan hệ của thâm hụt ngân sách và các vấn đề kinh tế vĩ mô chúng ta sẽ bàn luận từng mối quan hệ cụ thể giữa thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách với lạm phát, thâm hụt ngân sách và nợ công.1 Thâm hụt ngân sách với lạm phát Bội chi NSNN ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vì, khi ngân sách bị bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ, đều gây nên nguy cơ lạm phát tăng. 7 Việc phát hành tiền trực tiếp làm tăng cung tiền tệ trên thị trường sẽ gây lạm phát cao, đặc biệt khi việc tài trợ thâm hụt lớn và diễn ra liên tục thì nền kinh tế phải trải qua lạm phát cao và kéo dài. Sự gia tăng cung tiền có thể không làm tăng lạm phát nếu nền kinh tế đang đà tăng trưởng, mức cầu tiền giao dịch tăng lên phù hợp với mức tăng của cung tiền.
Tuy nhiên, trong trường hợp khu vực tư nhân đã thỏa mãn với lượng tiền họ đang nắm giữ (mức cầu tiền tương đối ổn định) thì sự gia tăng của cung tiền làm cho lãi suất thị trường giảm, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ, nhu cầu đầu tư sẽ tăng lên kéo theo sự tăng của tổng cầu nền kinh tế, mặt bằng giá cả sẽ tăng lên gây áp lực lạm phát. Người ta gọi trường hợp khi chính phủ tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách tăng cung tiền là hiện tượng chính phủ đang thu "thuế lạm phát" từ những người đang nắm giữ tiền. Thâm hụt ngân sách có thể được bù đắp bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước ngoài. Vay nợ trong nước được thực hiện thong qua phát hành trái phiếu ra thị trường vốn, tuy nhiên việc phát hành diễn ra liên tục thì sẽ làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, do dó, làm lãi suất thị trường tăng, để giảm lãi suất, Ngân hàng Trung ương phải can thiệp bằng cách mua các trái phiếu đó, điều này làm tăng lượng tiền tệ gây lạm phát.
Hay vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi ngân sách bằng ngoại tệ, lượng ngoại tệ phải đổi ra nội tệ để chi tiêu bằng cách bán cho Ngân hàng Trung ương, điều này làm tăng lượng tiền nội tệ trên thị trường tạo áp lực lên lạm phát.2 Thâm hụt ngân sách và nợ công Trong các mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và các biến số kinh tế vĩ mô thì có thể thấy mối quan hệ giữa thâm hụt và nợ công là trực tiếp và rõ ràng nhất. Về bản chất, nợ chính phủ chính là sự cộng dồn của thâm hụt ngân sách qua các năm (trừ khi có việc phát hành tiền hoặc bán tài sản quốc gia để bù đắp cho thâm hụt ngân sách). Theo đó, có thể thấy hệ quả của việc gia tăng nợ công là hệ quả trực tiếp của tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài, nhất là đối với mức thâm hụt sau khi đã loại trừ phần trả nợ gốc (thâm hụt ngân sách tính theo thông lệ quốc tế). Tuy nguồn vốn trái phiếu chính phủ để đầu tư cho các công trình giao thông, thủy lợi, y 8 tế và giáo dục.
cũng như nguồn vốn vay về cho vay lại chưa được đưa vào trong cân đối ngân sách nhưng có tính vào mức dư nợ công. Đây cũng là lý do mà làm cho tốc độ tăng nợ công những năm qua khi xét về giá trị tuyệt đối luôn ở mức cao hơn so với mức thâm hụt ngân sách theo số công bố. Hiện nay, tuy các giới hạn an toàn về nợ của Việt Nam vẫn được đảm bảo, song sự gia tăng liên tục của nợ công cũng là điều cần lưu ý. Việc đảm bảo sự an toàn và bền vững của nợ công là một trong những yêu cầu cần thiết để đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô trong trung và dài hạn.
Thâm hụt thƣơng mại 1. Khái niệm thâm hụt thƣơng mại Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư hay thặng dư thương mại.
Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt hay thâm hụt thương mại. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng. Xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ (theo điều 28, mục 1, chương 2 luật Thương mại Việt Nam năm 2009) là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt (khu chế xuất) nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc), thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên.
9 Tỷ giá hối đoái tăng (tức là tiền tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ) thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ trở nên cao hơn. Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức quy định cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại.
Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại. Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái. Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao. Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi.
Tác động của cán cân thƣơng mại (CCTM) tới GDP 1.1 Tác động của CCTM tới tiêu dùng cá nhân (C) Việc đánh giá tác động của CCTM tới tiêu dùng cá nhân còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia. Đối với những quốc gia đã phát triển, CCTM thường ở trong trạng thái thặng dư. Tức là hoạt động XK luôn hiệu quả hơn hoạt động NK.