CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Ngày nay, số lượng ô tô nhập khẩu cũng như lắp ráp, sản xuất trong nước là rất đa dạng về mẫu mã và chủng loại. Với trình độ công nghệ ngày càng cao, ô tô ngày càng chạy nhanh hơn, tiện nghi hơn, số lượng ngày càng nhiều và các xe tải ngày càng có khối lượng lớn hơn. Chính sự phát triển đó là nguyên nhân dẫn tới những áp lực mới cho xã hội như tai nạn giao thông, tình trạng phá huỷ đường xá ngày càng nghiêm trọng. Nghiên cứu ảnh hưởng của dao động ô tô chế tạo tại Việt Nam nhằm nâng cao an toàn chuyển động và giảm ảnh hưởng xấu của dao động với môi trường là một vấn đề cấp thiết.
Chính vì vậy, ngoài những tiêu chuẩn chung của thế giới cần phải có những qui định riêng phù hợp với điều kiện khai thác tại Việt Nam. Ô tô là liên kết của một hệ nhiều vật, các khối lượng đó liên kết với nhau bằng các phần tử có đặc tính phi tuyến phức tạp, có mối liên hệ chặt chẽ với đường có biên dạng phức tạp. Dao động của ô tô không những ảnh hưởng đến con người (lái xe và hành khách), hàng hoá chuyên chở, độ bền của các cụm tổng thành, ảnh hưởng đến độ an toàn chuyển động của ô tô mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ của đường. Đặc biệt trong quá trình chuyển động, sự kích động động học của mấp mô bề mặt đường làm cho ô tô dao động, khi ô tô dao động sẽ phát sinh tải trọng động tác dụng lên hệ thống chịu tải của xe (khung, vỏ), các chi tiết, cơ cấu tổng thành.làm ảnh hưởng đến độ bền và tuổi thọ của chúng.
Các nghiên cứu, thiết kế cầu đường thường được dựa trên cơ sở tải trọng tĩnh của ô tô. Nếu xác định được tải trọng động tác dụng lên cầu đường có thể đưa ra các qui định hợp lý về tốc độ, tải trọng của xe nhằm nâng cao tuổi thọ cho đường.1: Những vấn đề chung.1: Một số loại xe có tải trọng lớn ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Cục đăng kiểm Việt Nam, số lượng ô tô tải nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây là rất lớn với tổng số gần 150.000, gồm nhiều chủng 10 loại và mẫu mã khác nhau, do nhiều nước sản xuất như các hãng: Hyundai, Asia, Daewoo, Man, Mercedes, Hino, Mitsubishi, Maz, Kamaz. Còn theo thống kê của hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) đã cho thấy sự tăng trưởng khá mạnh mẽ của thị trường xe tải.
Trong tháng 11/2007, các thành viên hiệp hội đã tiêu thụ 4583 xe tải, Pick - up và Van, so với tháng 10/2007 tăng tới hơn 1000 xe. Tháng 10 các doanh nghiệp tiêu thụ được 3404 xe tải, bán tải. Năm 2007, tiêu thụ xe tải khoảng 30. Với tốc độ tăng trưởng như vậy thì thị trường xe tải sẽ có mức tăng trưởng thấp nhất cũng là 20% trong nhiều năm tới.
STT Nước SX 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng 1 Mỹ 256 922 1684 949 893 1204 5908 Trung 2 77 121 523 957 1238 1590 4506 Quốc Hàn 3 18653 16824 15765 11083 12032 9804 84161 Quốc 4 Nhật Bản 971 1131 1071 1362 1946 934 6515 5 Đài Loan 295 582 243 91 124 98 1433 6 Đức 2434 715 653 763 698 594 5857 7 Úc 3 3 3 1 2 4 16 Nước 8 2873 1337 1294 1825 1356 1024 8709 khác Tổng 25562 21635 21236 17031 17398 15252 117105 Bảng 1.1: Số lượng ô tô nhập khẩu theo nước sản xuất (Nguồn: Bộ GT-VT). Đặc biệt với ô tô tải có trọng lượng lớn, tải trọng cho phép không nhỏ hơn 5 tấn đang sử dụng tại Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài và số ít sản xuất lắp ráp trong nước, điển hình là liên doanh ô tô Hino Motor Việt Nam, số lượng tiêu thụ rất lớn.2: Số lượng xe có tải trọng lớn nhập vào Việt Nam theo các năm (Nguồn: Bộ GT-VT). Ô tô nhập vào Việt Nam đa dạng về chủng loại: * Ô tô đơn, gồm hai loại vạn năng và tự đổ. + Theo tải trọng cho phép: Các loại xe có tải trọng cho phép từ 5 đến 10 tấn chủ yếu là xe 2, 3 trục, công thức bánh xe: 4 X 2, 4 X 4, 6 X 2, 6 X 4, sử dụng lốp 10-20, 11-20.
Các loại xe có tải trọng cho phép trên 10 tấn thường là xe 3, 4 trục, công thức bánh xe: 6 X 4, 6 X 6, 8 X 4, sử dụng lốp 11-20, 12-20. + Về kích thước: Các ô tô đơn có kích thước bao nằm trong giới hạn qui định: Dài X Rộng X Cao ≤ 12. + Về tải trọng trục: Tuỳ thuộc vào từng loại xe, hãng xe sản xuất mà giá trị thiết kế tải trọng trục sẽ khác nhau. Loại trục Khoảng cách tâm hai trục liền kề d(m) Tải trọng cho phép(tấn) Một trục 10 d< 1.3: Tiêu chuẩn tải trọng trục cho phép (Nguồn: Bộ GT-VT).
* Đoàn xe: Ô tô đầu kéo, chủ yếu được nhập khẩu từ Hàn Quốc và Mỹ. 12 Sơ mi rơ mooc, chủ yếu dùng để chở container tiêu chuẩn, loại 20 feets và 40 feets nhập khẩu từ Trung Quốc và một số cơ sở sản xuất trong nước. Do những nguyên nhân khách quan nên thường nhập các cụm tổng thành chính như: Cầu, chân chống, hệ thống điện, phần còn lại thì chế tạo và lắp ráp trong nước.2: Các hệ thống treo thông dụng trên xe tải có tải trọng lớn. Hệ thống treo thông dụng trên xe tải chủ yếu là hệ thống treo phụ thuộc có phần tử đàn hồi bằng nhíp hoặc khí nén, tuy nhiên hệ thống treo loại nhíp phổ biến hơn vì kết cấu đơn giản và khả năng chịu tải cũng như độ bền cao.
+ Hệ thống treo đơn được bố trí chủ yếu là trên các trục dẫn hướng. + Hệ thống treo kép là hệ thống treo có hai trục và ba trục. + Phần tử đàn hồi loại nhíp là dầm chịu uốn gồm một hoặc nhiều lá nhíp, năng lượng dao động tiêu hao một phần do ma sát giữa các lá nhíp. + Phần tử đàn hồi loại khí, độ cứng thay đổi phi tuyến, không bị tiêu hao năng lượng do ma sát gây ra, cho phép giảm khối lượng không được treo.
+ Hệ thống treo kiểu dầm hai trục nối với nhau bằng dầm cứng thường được sử dụng cho các trục dẫn hướng. + Hệ thống treo kiểu cân bằng sử dụng phổ biến cho các nhóm trục phía sau, ưu điểm phân tải đều ra các trục, dịch chuyển của trục cân bằng bằng nửa dịch chuyển của bánh xe. + Hệ thống treo kiểu dầm - khớp thay đổi từ hệ treo cân bằng hai phần tử đàn hồi cao su thay cho bộ nhíp, tạo ra lực cản dao động.3: Lốp dùng trên ô tô. Lốp trên ô tô có tác dụng thu nhận, giảm bớt các va đập nhỏ khi xe chạy trên đường không bằng phẳng nhờ áp suất hơi và đàn hồi của lốp.
Ngày nay, kết cấu của lốp đã có nhiều thay đổi với các tính năng mới được cải thiện, nâng cao chất lượng của lốp. Cấu trúc, vật liệu và độ cứng của lốp ảnh hưởng đến khả năng bám đường, tính êm dịu và tải trọng tác dụng xuống đường. Về kết cấu, xương mành bằng vải sợi bông được 13 thay thế bằng sợi nhân tạo hoặc sợi kim loại đan chéo kiểu lốp Bias, loại đan sợi hướng tâm kiểu lốp radial. Mặt tiếp xúc với nền (hoa lốp) trên xe tải trọng lớn sử dụng loại rãnh lớn và thô.
Áp suất hơi trong lốp cho phép 0,5 - 0,75 N/mm2.4: Mạng đường ô tô tại Việt Nam. Theo TCVN 4054, cấp đường được phân loại theo chức năng qui định trong bảng sau, dùng cho quản lý, khai thác và sửa chữa đường: Cấp Cấp kỹ Tốc độ tính toán Số làn xe Chức năng chủ yếu của quản lý thuật Vtt (km/h) yêu cầu đường I Cấp 60 và 80 80 và 60 6 Đường nối các trung tâm II 4 kinh tế, văn hoá chính trị lớn III 2 Đường nối các trung tâm kinh tế, văn hoá chính trị IV Cấp 60 và 40 60 và 40 2 của địa phương với nhau và với đường trục ô tô hay đường cao tốc Đường nối các khu dân V Cấp 40 và 20 40 và 20 2 hoặc 1 cư Bảng 1.4: Các cấp quản lý của đường ô tô Lưu lượng thiết kế tối Cấp kỹ thuật Tốc độ tính toán V tt , km/h thiểu, xe/ nđ 80 80 ≥ 3000 60 60 ≥ 900 14 40 40 ≥ 150 20 20 < 150 Bảng 1.5: Cấp kỹ thuật của đuờng ô tô Xác định các cấp kỹ thuật của đường căn cứ vào chức năng của mỗi con đường, địa hình của vùng đặt tuyến và lưu lượng xe thiết kế. Bảng dưới trình bày phạm vi tốc độ của xe phụ thuộc từng loại đường. Địa hình Chức năng của đường Đồng bằng Đồi núi Núi Đường nối các trung tâm kinh tế 80; 60 80; 60 60 văn hoá, chính trị lớn Đường nối các trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của địa 80; 60 60; 40 40; 20 phương với nhau và với đường trục ô tô hay đường cao tốc Đường nối các khu dân cư 40 40; 20 20 Bảng 1.6: Bảng lựa chọn cấp kỹ thuật theo chức năng và địa hình của đường.
Phân biệt địa hình dựa trên cơ sở độ dốc ngang phổ biến như sau: Vùng đồng bằng < 10%, vùng đồi từ 10% - 25%, vùng rừng núi > 25%. Cũng theo các số liệu thống kê của Bộ GT-VT, đến năm 2000 Việt Nam có khoảng 20981 km đường bộ, mật độ phân bổ trung bình của hệ thống đường bộ trên toàn lãnh thổ tính trên dân số khoảng 0,8km/1000 dân, thấp hơn so với một số nước trong khu vực (Thái Lan: 1,03 km/1000 dân, Trung Quốc 0,94 km/1000 dân). Tỷ lệ đường dải mặt của Việt Nam đạt 29,6% (không tính đường xã và đường chuyên dụng), ở mức thấp so với các nước trong khu vực (trên thế giới con số này còn lớn hơn 50%). Hiện nay, nhiều nước châu Á đã có đường bộ cao tốc như: Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc, trong số đó tỷ lệ chiều dài đường cao tốc so với chiều dài toàn mạng đường bộ tương đối cao: Singapore 4,4%, Hàn Quốc 2,5%, trong khi Việt Nam vẫn 15 chưa có đường cao tốc mà chỉ đang có dự án đường cao tốc Bắc - Nam.
Mặt đường bê tông - xi măng và mặt đường bê tông - nhựa chiếm 9,37% tổng số chiều dài đường bộ, mặt đường đá răm thấm nhựa chiếm 6,4%, mặt đường trải đá, cấp phối và đường đát chiếm trên 80%.