Tổng quan nghiên cứu
Khu vực dải ven bờ Việt Nam với chiều dài hơn 3260 km đang phải đối mặt với các diễn biến xói lở và bồi tụ địa hình hết sức phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu cùng chế độ thủy thạch động lực biển khắc nghiệt. Sóng biển khi lan truyền từ vùng khơi vào vùng nước nông chịu sự biến đổi mạnh mẽ về cơ chế động lực, đặc biệt tại khu vực bên trong đới sóng đổ nơi năng lượng chuyển hóa thành hệ thống dòng chảy ven bờ gồm dòng dọc bờ và dòng rip nguy hiểm. Hệ thống dòng chảy này là động lực chính trực tiếp cuốn theo, dịch chuyển và tái phân bố trầm tích bùn cát, gây thiệt hại nghiêm trọng cho cơ sở hạ tầng ven biển và đe dọa an toàn tắm biển với hàng chục vụ tai nạn đuối nước do dòng rút xa bờ mỗi năm.
Nghiên cứu của học viên Nguyễn Thị Khang trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hải dương học (mã số 8440228) tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung giải quyết bài toán mô phỏng phi tuyến trường sóng và dòng chảy sóng vỡ. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là đánh giá độ chính xác, khả năng thích ứng của mô hình số trị SWASH (Simulating WAves till SHore) thông qua 3 bài toán kiểm nghiệm chuẩn quốc tế và ứng dụng thực tế cho bãi biển Cửa Lò (tỉnh Nghệ An) thuộc đề tài TNMT.09. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2018–2019 với dữ liệu đo đạc chi tiết tại dải bờ dài hơn 10 km. Luận văn đã cung cấp bộ công cụ mô phỏng thủy động lực học có độ tin cậy cao, hỗ trợ giảm thiểu sai số tính toán vận chuyển bùn cát xuống dưới 10%, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quy hoạch bảo vệ bờ biển và quản lý rủi ro thiên tai ven bờ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết thủy động lực học vùng nước nông hiện đại kết hợp cơ chế thạch động lực ven bờ. Khung lý thuyết trọng tâm bao gồm hệ phương trình nước nông phi tuyến tính đến thành phần áp suất phi thủy tĩnh (Non-hydrostatic Non-linear Shallow Water Equations), được dẫn xuất từ phương trình Navier-Stokes trung bình Reynolds (RANS) với giả thiết chất lỏng không nén được. Khi sóng lan truyền vào vùng nước nông có tỷ lệ giữa độ sâu và chiều dài bước sóng nhỏ hơn 0,5, hiệu ứng nền đáy bắt đầu chi phối quá trình tán xạ, khúc xạ và biến dạng sóng.
Ba khái niệm cốt lõi được tích hợp xuyên suốt mô hình gồm:
- Trường áp suất phi thủy tĩnh ($q$): Thành phần bổ khuyết động lực học giúp mô tả chính xác tính phân tán tần số của sóng ngắn và tương tác phi tuyến giữa các thành phần sóng.
- Mô hình xáo trộn rối cục bộ: Sử dụng lý thuyết độ dài hòa trộn Prandtl ($l_m$) và mô hình rối tiêu chuẩn $k-\epsilon$ để mô tả độ nhớt xoáy theo phương ngang ($\nu_t$) cùng sự tiêu tán năng lượng mạnh mẽ trong con lăn bề mặt khi sóng vỡ.
- Cơ chế vận chuyển bùn cát ven bờ: Phân định rõ ràng giữa dòng di đáy (bedload) do ma sát đáy chi phối đối với hạt thô và dòng lơ lửng (suspended load) do sóng cuộn hạt mịn lên tầng nước cao rồi bị dòng chảy mang đi. Ma sát đáy được lượng hóa chuẩn xác qua công thức Manning: $c_f = \frac{n^2 g}{h^{1/3}}$.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình hóa số trị trên nền tảng mã nguồn mở SWASH do Đại học Công nghệ Delft (Hà Lan) phát triển. Cỡ mẫu kiểm nghiệm bao gồm 3 bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn quốc tế có độ phân giải cao trong phòng thí nghiệm (Ting & Kirby 1994 với bể sóng 40 m; Van Gent & Doorn 2000 với mô hình bãi biển có bar ngầm dốc 1/30; Haller et al. 2002 với bể sóng 18,2 m x 19 m chứa hệ 3 cồn ngầm) cùng chuỗi dữ liệu thực địa đo đạc địa hình đáy, mực nước và trạm sóng NOAA tại bãi biển Cửa Lò.
Phương pháp chọn mẫu dữ liệu thực nghiệm được thực hiện phân tầng theo các điều kiện biên thủy văn đặc trưng: sóng điều hòa biên độ nhỏ, sóng ngẫu nhiên theo phổ JONSWAP/TMA và sóng bão cực hạn. Lý do lựa chọn mô hình SWASH xuất phát từ việc khắc phục triệt để các hạn chế cố hữu của hệ phương trình Mild Slope (vốn bỏ qua tương tác phi tuyến và phản xạ sóng) và mô hình Boussinesq (vốn phụ thuộc nặng nề vào các hệ số dập tắt sóng thực nghiệm nhân tạo và đòi hỏi tài nguyên tính toán rất lớn). Quá trình phân tích số trị được thực hiện qua thuật toán sai phân hữu hạn lồng ghép phương pháp Kellerbox nhằm giải quyết triệt để trường vận tốc thẳng đứng và điều kiện biên bức xạ sóng Blayo & Debreu (2005) để triệt tiêu hoàn toàn sóng phản xạ tại biên mở.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình kiểm nghiệm mô hình SWASH qua các kịch bản chuẩn và thực địa đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:
-
Tái tạo chính xác sự biến dạng và vỡ sóng trên bãi dốc thoải: Trong thí nghiệm Ting & Kirby (1994) trên bãi dốc 1/35 với sóng điều hòa chiều cao ban đầu 0,125 m (chu kỳ 2,0 s), mô hình SWASH mô phỏng hoàn hảo quá trình dốc đứng của sườn sóng. Chiều cao sóng tăng dần từ độ sâu 0,22 m và đạt đỉnh cực đại 0,15 m tại độ sâu 0,19 m trước khi đổ vỡ hoàn toàn, với độ sai khác trường độ cao sóng sau vùng sóng đổ dưới 4,5% so với thực nghiệm.
-
Khả năng mô phỏng sóng bão qua bãi nông có bar ngầm: Thử nghiệm theo nghiên cứu Van Gent & Doorn (2000) với điều kiện sóng bão dữ dội (chiều cao sóng 6,0 m, chu kỳ 9,0 s, mực nước dâng 4,7 m tại bãi thử Petten) chứng minh SWASH giải quyết xuất sắc hiện tượng sóng vỡ tầng đôi qua bar ngầm tại tỷ lệ độ cao sóng trên độ sâu đạt ngưỡng 0,78, kiểm soát sai số chiều cao sóng dư dưới 6,2%.
-
Nắm bắt cấu trúc hoàn lưu và dòng rip ven bờ: Mô phỏng thí nghiệm Haller et al. (2002) trên lưới tính chi tiết $\Delta x = \Delta y = 0,04\text{ m}$ và bước thời gian $0,01\text{ s}$ đã tái lập sắc nét dòng rip chảy xiết qua khe hở 1,82 m giữa các cồn ngầm. Vận tốc dòng chảy dọc bờ và dòng ngang bờ tại các mặt cắt $x = 10\text{ m}$, $11,2\text{ m}$, $12,2\text{ m}$ và $13\text{ m}$ có mức độ tương thích cao, đạt hệ số tương quan $R^2 > 0,91$.
-
Định lượng dòng vận chuyển trầm tích bãi biển Cửa Lò: Ứng dụng trường động lực tính toán từ SWASH cho thấy bức tranh phân bố lưu lượng bùn cát di chuyển dọc bờ tại các mặt cắt ngang có sự biến thiên từ 15% đến 35% giữa mùa gió đông bắc và mùa gió tây nam, làm sáng tỏ nguyên nhân gây bồi tụ cục bộ phía luồng tàu và xói lở cục bộ sườn bãi tắm.
Thảo luận kết quả
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc tích hợp gradient áp suất phi thủy tĩnh trong mô hình SWASH mang lại lợi thế vượt trội so với các mô-đun truyền thống như SW hay PMS trong bộ phần mềm MIKE 21. Các mô hình dựa trên hệ phương trình sóng tuyến tính thường đánh giá thấp năng lượng bức xạ sóng trong đới sóng đổ từ 20% đến 30% do bỏ qua hiệu ứng nước nông phi tuyến và tán xạ bậc cao.
Dữ liệu tính toán từ luận văn được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ phân bố vận tốc thành phần $u$ (hướng ngang bờ) và $v$ (hướng dọc bờ) theo không gian 2D, cùng bảng cân bằng lượng vận chuyển bùn cát qua 5 mặt cắt trọng điểm tại Cửa Lò. Biểu đồ đường đẳng sâu và trường vector dòng chảy đã minh chứng rõ nét: tại khu vực phía sau công trình bảo vệ bờ hoặc cồn cát ngầm, do năng lượng sóng suy giảm nên vận tốc dòng chuyển dịch giảm từ $0,85\text{ m/s}$ xuống dưới $0,15\text{ m/s}$, kích hoạt quá trình lắng đọng trầm tích hình thành dạng địa hình mũi nhô (salient) hoặc doi cát nối đảo (tombolo).
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng các mô hình động lực học ven bờ vào công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ công trình biển, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
-
Chuẩn hóa quy trình ứng dụng mô hình SWASH trong tính toán thiết kế công trình thủy công: Áp dụng bắt buộc việc tính toán trường áp suất phi thủy tĩnh cho các dự án đê kè biển, cảng biển và nạo vét luồng hàng hải nhằm giảm thiểu sai số dự báo xói lở chân công trình xuống dưới 8%, triển khai lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2024–2026 do Cục Hàng hải và Cục Quản lý Đê điều chủ trì.
-
Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dòng rip nguy hiểm tại các bãi tắm du lịch: Tích hợp mô hình số trị SWASH với dữ liệu dự báo sóng gió thời gian thực để thiết lập bản đồ số cảnh báo vùng xoáy xoáy đáy và dòng rút xa bờ cho bãi biển Cửa Lò và các bãi tắm miền Trung, hoàn thiện trong vòng 12 tháng với mục tiêu giảm 100% rủi ro đuối nước do dòng rút tại các điểm tắm tập trung.
-
Nâng cấp mạng lưới trạm quan trắc hải văn và đo đạc địa hình đáy tự động: Thiết lập hệ thống đo sâu hồi âm đa tia kết hợp máy đo sóng dòng chảy tự ghi (ADCP) tại các khu vực nhạy cảm xói lở, tần suất định kỳ 6 tháng/lần nhằm cung cấp biên điều kiện chuẩn xác cho mô hình toán, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo thực hiện.
-
Phát triển mô hình tích hợp sóng – dòng chảy – vận chuyển bùn cát 3 chiều (3D): Tiếp tục nghiên cứu mở rộng liên kết SWASH với mô hình hình thái đáy động lực học (morphodynamic) để dự báo biến động bờ biển theo chu kỳ dài hạn 5–10 năm trước tác động của nước biển dâng và bão cực đoan.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:
-
Các nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hải dương học, Khí tượng Thủy văn và Kỹ thuật Công trình biển: Tiếp cận phương pháp thiết lập phương trình số trị phi thủy tĩnh hiện đại, kỹ thuật xử lý điều kiện biên bức xạ và phương pháp giải phương trình RANS trong môi trường nước nông nhiều biến dạng.
-
Kỹ sư tư vấn thiết kế công trình ven bờ và quy hoạch cảng biển: Sử dụng trực tiếp các thông số mô phỏng về trường sóng vỡ, ma sát đáy Manning và lưu lượng bùn cát để tối ưu hóa kết cấu đê chắn sóng, mỏ kè hàn và công trình chỉnh trị cửa sông.
-
Ban quản lý các khu du lịch ven biển và lực lượng cứu nạn cứu hộ: Khai thác bản đồ trường dòng chảy phát sinh do sóng để khoanh vùng an toàn bãi tắm, bố trí phao tiêu cảnh báo dòng rip và xây dựng kịch bản cứu hộ kịp thời trong mùa du lịch cao điểm.
-
Cơ quan quản lý nhà nước về Biển, Đảo và Biến đổi khí hậu: Vận dụng số liệu định lượng về biến động bồi xói đường bờ để thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và phê duyệt quy hoạch tổng thể không gian biển quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao mô hình SWASH lại vượt trội hơn mô hình Mild Slope trong vùng sóng đổ?
Mô hình Mild Slope dựa trên lý thuyết sóng tuyến tính biên độ nhỏ nên không thể mô tả được tính phi tuyến mạnh khi sóng tiến sát bờ, bỏ qua hoàn toàn hiện tượng sóng vỡ và tương tác giữa các thành phần sóng. Trong khi đó, SWASH giải hệ phương trình nước nông phi thủy tĩnh phi tuyến, nắm bắt chính xác độ dốc sườn sóng và sự tiêu tán năng lượng trong đới sóng đổ với sai số trường sóng dưới 5%.
2. Thành phần áp suất phi thủy tĩnh đóng vai trò gì trong việc mô phỏng trường sóng ven bờ?
Khi sóng truyền vào vùng nước nông có địa hình biến đổi mạnh, phân bố áp suất theo phương thẳng đứng không còn tuân theo quy luật thủy tĩnh đơn thuần. Thành phần áp suất phi thủy tĩnh bổ sung các số hạng gia tốc thẳng đứng giúp mô hình tính toán chuẩn xác tính phân tán tần số của sóng ngắn và bảo toàn động lượng khi sóng biến dạng cực hạn.
3. Dòng rip sinh ra do đâu và SWASH mô phỏng hiện tượng này như thế nào?
Dòng rip hình thành do sự chênh lệch ứng suất bức xạ sóng khi sóng đổ không đồng đều qua các bãi cồn ngầm và khe hở đáy biển, tạo dòng nước hội tụ mạnh hướng ngược ra khơi. Thử nghiệm với bài toán Haller (2002) chứng minh SWASH mô phỏng chính xác vị trí, bề rộng khe hở 1,82 m và vận tốc dòng chảy qua khe đạt mức tương thích trên 90% so với đo đạc thực tế.
4. Dữ liệu địa hình đáy đầu vào cho mô hình SWASH cần đáp ứng tiêu chuẩn gì?
Mô hình yêu cầu dữ liệu lưới địa hình đáy có độ phân giải không gian mịn (thường từ $0,04\text{ m}$ đến $1,0\text{ m}$ trong phòng thí nghiệm và $5\text{ m}$ đến $20\text{ m}$ ngoài thực địa bãi biển Cửa Lò). Địa hình phải phản ánh rõ nét độ dốc mái bãi, vị trí các bãi cồn cát ngầm và độ nhám Manning đáy để đảm bảo tính ổn định số học trong từng bước thời gian.
5. Kết quả nghiên cứu tại Cửa Lò có thể nhân rộng cho các bãi biển khác tại Việt Nam không?
Hoàn toàn có thể. Quy trình thiết lập lưới tính, hiệu chỉnh hệ số ma sát đáy và cài đặt điều kiện biên sóng phổ ngẫu nhiên của luận văn có tính tổng quát cao, dễ dàng tùy biến áp dụng cho các dải bờ biển có điều kiện địa hình bãi thoải và bãi có bar ngầm tương tự dọc theo dải duyên hải miền Trung.
Kết luận
- Luận văn đã kiểm chứng thành công và khẳng định tính ưu việt vượt bậc của mô hình số trị SWASH trong việc tính toán trường sóng và dòng chảy sóng vỡ so với các mô hình truyền thống.
- Đóng góp khoa học cốt lõi là làm sáng tỏ cơ chế thủy động lực học phi tuyến, quá trình hình thành dòng rip qua cồn ngầm và định lượng chính xác sự dịch chuyển bùn cát ven bờ tại bãi biển Cửa Lò.
- Nghiên cứu cung cấp bộ thông số hiệu chuẩn chuẩn xác về hệ số nhám đáy Manning ($c_f$) và độ dài xáo trộn Prandtl ($l_m$), tạo tiền đề cho các mô phỏng thạch động lực chi tiết.
- Lộ trình tiếp theo cần hướng tới việc tích hợp mô hình SWASH vào hệ thống tính toán dự báo thời gian thực và mở rộng cho toàn bộ dải ven biển Bắc Trung Bộ trong giai đoạn 2024–2025.
- Các đơn vị quản lý bờ biển, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tư vấn xây dựng công trình thủy nên chủ động ứng dụng mô hình số trị SWASH để tối ưu hóa giải pháp công trình và bảo vệ bền vững tài nguyên bờ biển Việt Nam.