CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Việc tăng nhanh phụ tải trong hệ thống điện đã làm cho hệ thống điện ngày càng có quy mô lớn với kết cấu phức tạp hơn, song song đó hệ thống điện luôn phải đối mặt với áp lực vận hành đầy tải và áp lực vận hành rất gần với giới hạn biên ổn định. Số lượng phụ tải được kết nối với hệ thống điện sẽ gia tăng nhiều hơn nữa trong tương lai đã thách thức vận hành ngày càng gia tăng đáng kể do đầu tư nguồn phát và hệ thống truyền tải không đáp ứng kịp sự phát triển của nhu cầu phụ tải. Đặc biệt, các hệ thống điện rất nhạy cảm với các kích động không mong đợi có thể xảy ra, trong khi đó hệ thống điện vận hành luôn phải đối mặt với các kích động bất thường như cắt điện máy phát, ngắn mạch trên đường dây truyền tải hay trên những thanh cái.
Các kích động này làm gián đoạn những quy trình công nghiệp quan trọng và gây tổn thất lớn về kinh tế, gây nguy hiểm đến hệ thống điện và có thể dẫn đến tan rã hệ thống điện. Ổn định hệ thống điện đề cập đến quá trình dao động điện từ do những kích động gây nên. Ổn định động hệ thống điện đề cập đến khả năng của hệ thống máy phát kiểm soát hoạt động của tuabin-thiết bị điều tốc, hệ thống kích từ sau những kích động lớn để vẫn duy trì được sự đồng bộ [9]. Ổn định góc rotor đề cập đến khả năng của các máy phát điện đồng bộ có mối liên kết với nhau vẫn duy trì tính đồng bộ sau khi chịu kích động lớn [10,23,34].
Vì vậy, một nhu cầu rất mạnh mẽ là cần hệ thống đánh giá nhanh ổn định hệ thống điện bằng cách phân tích ổn định của hệ thống và cảnh báo sớm để có những hành động ngăn chặn kịp thời, đánh giá nhanh và chính xác trở thành yếu tố then chốt đảm bảo vận hành hệ thống điện ổn định. Để đánh giá hệ thống ổn định hay không ổn định sau kích động lớn có nhiều phương pháp được áp dụng. Phương pháp thường được sử dụng để đánh giá ổn định quá độ là mô phỏng miền thời gian (Time Domain Simulation), phương pháp trực tiếp và phương pháp hàm năng lượng [23,24,25]. Phương pháp mô phỏng miền thời HVTH: Phan Viết Thịnh Trang 1 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh gian được thực hiện qua việc giải các phương trình không gian trạng thái của các hệ thống điện và sau đó xác định ổn định quá độ [23].
Phương pháp miền thời gian cho kết quả chính xác để đánh giá ổn định quá độ hệ thống điện nhưng không cho biết biên ổn định của hệ thống, tốn nhiều thời gian do phải giải hệ phương trình vi phân phi tuyến sau nhiễu [10,14]. Phương pháp số cho câu trả lời chính xác về ổn định quá độ hệ thống điện, nhưng gặp khó khăn trong giải phương trình vi phân bậc 2, và mất nhiều thời gian giải [20,22,29]. Phương pháp này cũng không cung cấp mô hình chi tiết của thành phần hệ thống điện cần thiết cho đánh giá ổn định [20]. Phương pháp hàm năng lượng xác định ổn định quá độ mà không cần giải các phương trình không gian trạng thái khác của hệ thống điện [23], tuy nhiên phương pháp cần nhiều tính toán để xác định chỉ số ổn định quá độ.
Phương pháp sử dụng hàm Lyapunov cho biết thời gian cắt ổn định động nhưng đòi hỏi sự tính toán phức tạp và tốn nhiều thời gian [22,23]. Như vậy, các phương pháp phân tích truyền thống tốn nhiều thời gian giải nên gây chậm trễ trong việc ra quyết định, với yêu cầu rất khắc khe về thời gian tính toán, tính nhanh nhưng phải chính xác đã xuất hiện nhu cầu ứng dụng phương pháp khác hiệu quả hơn. Phương pháp kỹ thuật nhận dạng mẫu (Pattern Recognition) áp dụng đánh giá ổn định động hệ thống điện bỏ qua giải tích và thay thế bằng cách học quan hệ mẫu đầu vào và đầu ra [20], các tiếp cận theo hướng này thì bộ phân loại được huấn luyện offline và kiểm tra online. Trong [13,14,16,21] tác giả đề xuất các giai đoạn khai triển của mô hình nhận dạng thông minh đánh giá ổn định hệ thống điện.
Trong [31,35], tác giả chọn tín hiệu đầu vào là các biến đặc trưng chế độ xác lập tiền sự cố để chẩn đoán ổn định quá độ qua chỉ số thời gian cắt tới hạn CCT (Critical Clearing Time), là thời gian cắt sự cố dài nhất cho phép để hệ thống vẫn giữ ổn định ứng với góc công suất cắt chuẩn. Tuy nhiên, việc tìm mối liên hệ giữa các biến đặc trưng chế độ xác lập tiền sự cố và độ ổn định cũng là một thách thức. Có hai loại biến đặc trưng, chúng được phân loại thành biến đặc trưng trước sự cố và biến đặc trưng sau sự cố. Trong đó biến đặc trưng trước sự cố thì thường là HVTH: Phan Viết Thịnh Trang 2 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh thông số xác lập [13,14,15].
Với những biến đặc trưng trước sự cố, an ninh hệ thống điện có thể được đánh giá trước khi sự cố xảy ra, nếu trạng thái vận hành hiện tại được hiển thị không ổn định, những người vận hành có thể chuẩn bị điều khiển phòng ngừa để dịch chuyển điểm vận hành hệ thống vào các vùng an toàn để tránh nguy cơ mất ổn định. Điều này có thể đảm bảo hệ thống điện vận hành ở trạng thái phòng ngừa, chặn trước những sự kiện ngẫu nhiên đã biết trước, nhưng nó sẽ phải chịu chi phí tốn kém (do sự thay đổi trạng thái vận hành hệ thống, chẳng hạn tái kế hoạch phát điện). Ngược lại, với những biến đặc trưng sau sự cố được sử dụng như là ngõ vào, đánh giá ổn định động chỉ có thể được thực hiện sau khi một kích động thực sự xảy ra, và nếu sự ổn định được phát hiện bị mất trong thời gian ngắn, những điều khiển phục hồi nên được kích hoạt ngay lập tức, thường được biết đến như là ngắt máy phát và/hoặc xa thải phụ tải. Đây là biện pháp đối phó, không mất chi phí nếu những kích động không thực sự xảy ra, nhưng sẽ dẫn đến sự hao phí kinh tế và xã hội to lớn nếu được thực hiện, chẳng hạn loại bỏ các máy phát điện và/hoặc các bus tải là không thể tránh khỏi.
Bên cạnh đó, việc sử dụng những biến đặc trưng sau sự cố đòi hỏi một khoảng thời gian đáp ứng nhất định để chẩn đoán sự ổn định, ít nhất 1s sau khi sự cố được cắt [13,14]. Thời gian tới hạn này có thể là quá dài cho những người vận hành thực hiện những hành động khắc phục kịp thời để dừng quá trình mất ổn định quá độ. Mạng nơron nhân tạo (Artificial Neural Network – ANN) sử dụng kỹ thuật nhận dạng mẫu lựa chọn những mẫu đặc trưng quan trọng làm mẫu đầu vào, việc lựa chọn và trích xuất đặc trưng giúp cho hệ thống lựa chọn những đặc trưng tốt nhất có khả năng phân biệt cao nhất [20], qua đó giúp hệ thống xử lý dữ liệu một cách nhanh chóng và nâng cao độ chính xác. Trong [20] trình bày ANN sử dụng phương pháp nhận dạng mẫu để đánh giá an ninh.
Trong [27,29] ứng dụng MLPNN (Multilayer Perceptron Neural Network) để ước lượng biên ổn định quá độ hệ thống điện. Trong [34] CNN (Committee Neural Network), [28] PNN (Probabilistic Neural Network) đã được sử dụng để đánh giá ổn định quá độ qua góc rotor tương đối máy phát. KNN (Kohenen Neural Network) [32], GRNN (Generalized HVTH: Phan Viết Thịnh Trang 3 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh Regression Neural Network) [30], MLFNN (Multilayer Feedforward Neural Network) [24,25,33], BPLNN (Backpropagation Learning Neural Network) [31,35] đánh giá ổn định hệ thống điện qua chỉ số CCT (Critical Clearing Time). Đánh giá ổn định quá độ thường tập trung vào chỉ số CCT của hệ thống điện để đáp ứng với một sự cố được định rõ như là thời gian tối đa sau khi xảy ra nhiễu loạn, trong thời gian đó nếu sự cố được cắt, hệ thống điện có thể vẫn giữ được ổn định quá độ của nó [23,24].
Trong [24] đánh giá ổn định quá độ sử dụng ANN xem xét vị trí sự cố để chẩn đoán thời gian cắt tới hạn CCT của hệ thống điện. Quá trình huấn luyện ANN được thực hiện sử dụng lựa chọn các biến đặc trưng như là ngõ vào và CCT như là ngõ ra mục tiêu. Trong [23,24] kiểu của kích động ngẫu nhiên được xem xét là sự cố ba pha cân bằng được tạo ra tại các vị trí khác nhau trong hệ thống tại mọi thời điểm. Khi có một sự cố ba pha xảy ra tại bất kỳ đường dây nào trong hệ thống, một máy cắt sẽ hoạt động và đường dây tương ứng sẽ bị cắt tại thời gian cắt sự cố FCT (Fault Clearing Time) được cài đặt bởi người sử dụng.
FCT được cài đặt ngẫu nhiên qua việc xem xét hệ thống ổn định hoặc không ổn định hay không sau khi một sự cố được cắt. Theo [23,39], nếu các góc rotor tương đối của các máy phát điện vẫn ổn định sau khi một sự cố được cắt, nó ngụ ý rằng FCT nhỏ hơn CCT và hệ thống điện được cho là ổn định, nhưng nếu các góc rotor tương đối lệch khỏi bước sau khi một sự cố được cắt, có nghĩa là FCT lớn hơn CCT và hệ thống không ổn định. Như vậy, cài đặt FCT là một hệ số quan trọng để xác định ổn định của hệ thống điện. Nếu FCT cài đặt tại một thời gian ngắn hơn CCT của đường dây, hệ thống ổn định, nếu không hệ thống sẽ không ổn định.
Trong [20] một hệ thống được xem là ổn định quá độ nếu FCT nhỏ hơn CCT. Trong đánh giá ổn định quá độ, về cơ bản, có hai phương pháp cụ thể là đánh giá và chẩn đoán. Đánh giá hệ thống điện thường tập trung vào chỉ số CCT trong khi chẩn đoán hệ thống điện, CCT thì không quan trọng mà cần quan sát quá trình quá độ xảy ra khi gặp nhiễu để phân loại hệ thống vào trạng thái ổn định hoặc không ổn định và sử dụng chỉ số ổn định như CCT, sự khác biệt trong góc rotor giữa máy phát điện và máy phát điện tham khảo [24]. Ba giai đoạn sự cố mà hệ HVTH: Phan Viết Thịnh Trang 4 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh thống điện trãi qua là: trước sự cố, đang sự cố và sau sự cố.