chương 1 này em nghiên cứu về các công nghệ mạng không dây và mạng cảm biến không dây.1 Giới thiệu Ngày nay mạng không dây nói chung và mạng cảm biến không dây nói riêng (2 vấn đề ngày càng không còn khoảng cách quá lớn-xem thêm mục 5G) đã trở thành một lĩnh vực hấp dẫn và được sự quan tâm của các nhà cung cấp dịch vụ. Các mạng di động luôn có sẵn gần như bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào và số lượng các thiết bị không dây được người dùng sử dụng là rất cao. Các dịch vụ trên thiết bị không dây được liên tục gia tăng trong các phạm vi khác nhau và số lượng người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngày càng lớn. Trong các thiết bị không dây, nhu cầu cần giao thức an toàn mạnh là một trong những vấn đề quan trọng nhất và nó phải đối mặt với các chuẩn của điện thoại di động.
Bởi mọi dịch vụ từ email cho đến các hoạt động trong ngân hàng hay bầu cử đều có thể thực hiện thông qua thiết bị không dây và mật mã là một phần thiết yếu để đáp ứng nhu cầu an ninh cho mọi cá nhân và tổ chức. Song các ứng dụng trên mạng không dây và các dịch vụ trên đó hiện vẫn tiềm ẩn nguy cơ về an ninh. Nguyên nhân, các lớp bảo mật của nhiều giao thức không dây vẫn sử dụng các thuật toán mã hóa đã bị chứng minh là không phù hợp cho việc triển khai thực hiện trên phần cứng, đặc biệt là không phù hợp cho các thiết bị không dây, nơi mà bị hạn chế về nguồn năng lượng, khả năng xử lý,. Nhìn chung, các thuật toán mật mã truyền thống sử dụng nhiều các phép toán số học và đại số.
Điều này là không thích hợp cho tích hợp trên phần cứng. Đây cũng là lý do giải thích cho việc khi sử dụng các thuật toán mật mã 3 dạng này tiêu hao nhiều tài nguyên và năng lượng của hệ thống, mà năng lượng đối với các thiết bị không dây luôn là một vấn đề đáng được quan tâm. Tổng quan về an ninh mật mã trong một số mạng không dây 1. Công nghệ GSM GSM (Global System for Mobile Communications – Hệ thống thông tin di động toàn cầu) là một tiêu chuẩn cho điện thoại di động kỹ thuật số được đưa ra bởi ETSI (European Telecommunications Standards Institute).
Hệ thống này hỗ trợ đảm bảo an ninh nhờ xác thực và mã hóa giữa mạng với các thuê bao. Có ba loại thuật toán mật mã chính được sử dụng trong GSM: họ A5 (A5/1, A5/2, A5/3) là các thuật toán mật mã dòng được sử dụng để mã hóa bảo mật, A3 là thuật toán dùng để xác thực và A8 là thuật toán dùng để thỏa thuận khóa. Thuật toán A5/1 bị thám mã đầu tiên bởi Golic, sau đó bởi Bryukov, Shamir và Wagner và gần đây là Ekdahl và Johansson. Thuật toán A5/2 bị thám mã bởi Goldberg, Wagner và Green.
Họ thực hiện tấn công dựa trên kiểu tấn công biết bản rõ (know plaintext attack) với độ phức tạp thời gian trung bình là 216. Thuật toán A5/3 (dựa trên thuật toán mật mã khối KASUMI) cũng đã bị tấn công bởi Barkan, Biham và Kellerr. Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác, thuật toán A5/2 hiện vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong GSM. Công nghệ WAP Giao thức ứng dụng không dây WAP (Wireless Application Protocol ) là chuẩn cho truyền thông không dây và các dịch vụ thoại trên điện thoại di động.
WAP sử dụng WTLS (Wireless Transport Layer Security), một biến thể không dây của giao thức SSL/TLS để đảm bảo an toàn truyền thông của các thiết bị di động và các thành phần khác của kiến trúc WAP. Giao thức này hỗ trợ tính riêng tư, tính toàn vẹn dữ liệu và xác thực thông điệp. Các thuật toán mạnh đã được lựa chọn để hỗ trợ cả ba khía cạnh khác nhau là mã hóa, xác thực và đảm bảo tính toàn vẹn. Cụ thể, các thuật toán mã hoá đã được sử dụng là 4 DES, IDEA và RC5; xác thực thông điệp nhờ chữ ký số RSA và chữ ký số đường cong Elliptic; đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu với MD5 và SHA.
Tuy nhiên có một số nguy cơ an ninh tiềm tàng đã được xác định trong WTLS. Đó là có thể dự đoán được véc tơ khởi tại (IV) trong chế độ CBC của các thuật toán mã hóa có thể dẫn đến các tấn công bản rõ chọn lựa (chosen- plaintext attack). 40-bit XOR MAC trong WTLS không hỗ trợ cơ chế bảo vệ tính toán vẹn khi mật mã dòng được sử dụng. Sử dụng PKCS#1 version 1.5 padding, các thông điệp RSA có thể được giải mã 220 bản mã chọn lựa (chosen ciphtertext).
Công nghệ Bluetooth Bluetooth là một hệ thống truyền thông không dây được tích hợp trên các máy tính xách tay, điện thoại di động và các thiết bị khác mà có thể được kết nối với nhau, yêu cầu sử dụng điện năng thấp và các kết nối không dây trong phạm vi ngắn. Bluetooth bao gồm các tính năng an ninh, hệ thống hỗ trợ xác thực và các quá trình mã hóa. Các tính năng này được dựa trên một khoá liên kết bảo mật nó được chia sẻ bởi một cặp thiết bị. Khóa được tạo ra khi hai thiết bị giao tiếp lần đầu tiên.
Mã hóa thông tin được thực hiện với thuật toán mã hóa dòng E0. Thuật toán này được đưa ra bởi Massey và Rueppel. Bluetooth sử dụng các thuật toán sửa đổi dựa trên mật mã khối SAFER+ để sinh khóa (được gọi là E21 và E22) và xác thực thông điệp (được gọi là E1). Một số tấn công đã được thực hiện trên E0, giao thức Buetooth và một số lỗ hổng đã được chỉ ra.
Vào năm 1999, Miia Hermelin và Kaisa Nyberg đã chỉ ra rằng E0 có thể bị phá vỡ với 264 phép tính (thay vì thực hiện 2128 phép tính), nếu biết 264 bit đầu ra. Kiểu tấn công này sau đó tiếp tục được cải tiến bởi Kishan Chand Gupta và Palash Sarkar. Sau đó Scott Fluhrer đã thực hiện một tấn công lý thuyết với khoảng 280 phép tính và độ phức tạp tìm khóa khoảng 265 phép tính.Vào năm 2005, Lu, Meier và Vaudenay công bố kết quả thám mã 5 E0 dựa trên kiểu tấn công tương quan có điều kiện (conditional correlation attack). Kết quả tốt nhất đạt được yêu cầu biết 24 bit đầu tiên của 223.8 frame và 238 phép tính để khôi phục khóa.
Công nghệ WLAN Mạng cục bộ không dây WLAN (Wireless Local Area Network) cho phép thiết lập mạng LAN không dây trong phạm vi hẹp. WLAN được mô tả trong chuẩn IEEE 802. Các chuẩn trong IEEE 802.11, đều cung cấp các khả năng mã hóa bảo mật dữ liệu (giao thức WEP sử dụng thuật toán RC4 và giao thức WPA sử dụng thuật toán AES), các giao thức này hầu như đã bị phá vỡ trong thực tế. Để kiểm tra tính toàn vẹn, trong các chuẩn 802.11b sử dụng thuật toán CRC, trong các chuẩn 802.11n sử dụng thuật toán MIC.
Việc sử dụng CRC để kiểm tra tính toàn vẹn là một điểm yếu rất lớn của các chuẩn 802. Mặc dù thuật toán MIC đã được sử dụng thay thế trong các chuẩn mới, tuy nhiên các giao thức không dây vẫn có thể bị phá vỡ bởi các phần mềm bẻ khóa. Công nghệ HIPERLAN HIPERLAN (High Performance Radio LAN – Mạng LAN vô tuyến hiệu năng cao) là chuẩn truy cập băng thông rộng không dây của ETSI. Các đặc tả của giao thức truyền thông này xác định cách mã hoá/giải mã từng phần cho các tùy chọn sử dụng.
Tất cả các nhân HIPERLAN MAC sử dụng khóa chung cho các thuật toán mã hóa mà giao thức hỗ trợ. Chúng được gọi là thiết lập khoá HIPERLAN. Tất cả các khóa của thiết lập này được mô tả duy nhất với đặc điểm riêng của chính nó. Trong phần bảo mật của giao thức, bản mã được tạo ra từ một thủ tục XOR khóa với văn bản gốc.
Các hàm mã ngoại trừ các khóa, cũng đòi hỏi một chuỗi ngẫu nhiên. ETSI đòi hỏi phần bảo mật mà đã được thông qua trong HIPERLAN sử dụng các mức bảo vệ của một mạng LAN có dây. Không dễ để đưa ra chi tiết về mức độ bảo vệ và sức mạnh của sự bảo mật mà HIPERLAN hỗ trợ bởi các mật mã xác định vẫn chưa sẵn có. Công nghệ 3G Mạng 3G hay công nghệ truyền thông di động thế hệ thứ 3 (Third Generation of Mobile Telecommunications technology) cho phép truyền thông dữ liệu tốc độ cao và dung lượng thoại lớn cho những người dùng di động.
Một số hệ thống tiêu chuẩn của 3G là hệ thống UMTS (Universal Mobile Telecommunications System) và hệ thống CDMA2000. UMTS là hệ thống thông tin di động toàn cầu, là một trong những hệ thống thông tin tế bào thế hệ thứ 3 gọi là mạng 3G. Các thuật toán mới được thiết kế mở và công khai (thuật toán f1 đến f5 để chứng thực tính toàn vẹn của dữ liệu; thuật toán f8 để mã hóa, thuật toán f9 để kiểm tra tính toàn vẹn) 1. Công nghệ 4G Cũng giống như các thuật ngữ 2G, 3G, 4G (Fourth-Generation)-công nghệ truyền không dây đời thứ tư.
4G hỗ trợ truyền tải dữ liệu với tốc độ tối đa 1 đến 1.5 GB/giây, trong điều kiện lý tưởng. Và tốc độ này cao hơn rất nhiều so với 2G và 3G. Từ việc đạt tối đa tốc độ đường truyền, mạng 4G là điều lý tưởng để người dùng có thể thực hiện các cuộc hội thảo video, truyền hình với độ nét cao, duyệt web tốc độ hay thậm chí điện thoại IP (VoIP). Công nghệ 4G là chuẩn của các thiết bị không dây.
Các nghiên cứu đầu tiên về 4G cho biết, điện thoại 4G có thể nhận dữ liệu với tốc độ 100 Megabyte/giây khi di chuyển và tới 1 Gb/giây khi đứng yên, cho phép người sử dụng có thể tải và truyền lên hình ảnh động chất lượng cao. Mạng điện thoại 3G hiện tại chỉ có tốc độ tải là 384 kilobyte/giây và truyền dữ liệu lên với tốc độ 129 kilobyte/giây. Công nghệ 5G và mạng cảm biến không dây 5G (Thế hệ mạng di động thứ 5 hoặc hệ thống không dây thứ 5) là thế hệ tiếp theo của công nghệ truyền thông di động sau thế hệ 4G, hoạt động ở các băng tần 28, 38, và 60 GHz. Theo các nhà phát minh, mạng 5G sẽ có tốc độ nhanh hơn khoảng 10 lần so với mạng 4G hiện nay, giúp mở ra nhiều khả năng mới và hấp dẫn.
Lúc đó, xe tự lái có thể đưa ra những quyết định quan 7 trọng tùy theo thời gian và hoàn cảnh. Tính năng chat video sẽ có hình ảnh mượt mà và trôi chảy hơn, làm cho chúng ta cảm thấy như đang ở trong cùng một mạng nội bộ.