CHƯƠNG 1 SỰ CÀN THIẾT CỦA VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐÓI NGOẠI TRONG GIAI DOAN DOI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUOC TE 1. Khái niệm về tài liệu lưu trữ, văn hoá, van hoá đối ngoại và ngoại giao văn hoá 1. Khái niệm về tài liệu lưu trữ Hiện nay, trên thế giới chưa có sự giải thích thống nhất hoàn toàn về khái niệm “tài liệu lưu trữ”. Nhiều nước chỉ giới hạn tải liệu lưu trữ là các sản phẩm tải liệu được hình thành trong hoạt động của các cơ quan hoặc cá nhân nhưng có những nước xác định tài liệu lưu trữ bao gồm cả ấn phẩm, tác phẩm hội họa., có thé kể đến như: Luật Lưu trữ Pháp định nghĩa “tài liệu lưu trữ là toàn bộ tai liệu không phụ thuộc vào bất kỳ thời gian nào, hình thức, vật mang tin và tình trạng vật lý như thế nào, được sinh ra hay nhận được từ bất kỳ cá nhân hay tập thể nào, từ tất cả các cơ quan hay tổ chức công hay tư trong quá trình hoạt động”; luật pháp lưu trữ tại Canađa cho rằng “tài liệu lưu trữ là toàn bộ các yếu tố thông tin như công văn, thư từ trao đôi, thông báo, sách, sơ đồ, ban đồ, bản vẽ thiết kế, biểu đô, tranh vẽ, ảnh, phim, vi phim, các bản sao từ tính hoặc máy tính, hoặc tất cả các bản sao chép có chứa yếu tố thông tin” hoặc luật pháp lưu trữ tại Inđônêsia khang định “tài liệu lưu trữ là tat cả các tài liệu dưới bat kỳ hình thức nào, ké cả tài liệu riêng lẻ hoặc nhóm tài liệu được các tổ chức nhà nước hoặc các cơ quan của Chính phủ lập ra và nhận được trong quá trình hoạt động, cũng như do các cơ quan tư nhân hoặc các cá nhân lập ra hoặc nhận được trong quá trình thực hiện các hoạt động vì lợi ích quốc gia”[05].
Tại Việt Nam, trong cuốn “Từ điển Lưu trữ Việt Nam” giải thích “tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, đoàn thé, xí nghiệp va cá nhân được bảo quản cố định trong các lưu trữ dé khai thác phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, lịch sử. của toàn xã hội” nhưng chưa có định nghĩa cụ thể về “tài liệu lưu trữ” trong các văn bản mang tính quy phạm. Điều | của Pháp lệnh Lưu 14 trữ quốc gia năm 2001 đưa ra khái niệm “tài liệu lưu trữ quốc gia” là "tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, qua hoạt động của các cơ quan nha nước, tô chức chính trị, tô chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tô chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các nhân vật lịch sử, tiêu biểu phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn. Tài liệu lưu trữ quốc gia phải là bản chính, bản gốc của tài liệu được ghi trên giấy, phim, ảnh, bằng hình, đĩa hình, bằng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc bằng các vật mang tin khác; trong trường hợp không còn bản chính, bản gốc thì được thay thế băng bản sao hợp pháp” [55, 1].
Như vậy, tài liệu lưu trữ chứa đựng các thông tin trên các vật mang tin khác nhau, có thé là tài liệu của các cơ quan nhà nước hoặc cũng có thể tài liệu có xuất xứ từ các cá nhân tiêu biéu, không phân biệt cơ quan bao quan và lưu giữ, có giá tri đối với quốc gia và dân tộc. Có thé nhận thay rằng, tài liệu lưu trữ có các đặc điểm và tính chất như sau: Một là, tài liệu lưu trữ có nội dung phong phú, hình thức đa dạng, có thể được thé hiện trên các vật mang tin khác nhau như: giấy, phim, ảnh, bằng hình, đĩa hình, bằng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc gỗ, lụa, đá, lá cây. Như vậy, tài liệu lưu trữ có thể là văn bản hành chính, một bài hát, một bức tranh, một bức ảnh, một bản vẽ, một tắm bưu thiếp, một bộ phim, một bản khắc gỗ. phản ánh các vấn đề về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ.
Hai là, tài liệu lưu trữ là bản gốc, bản chính của tài liệu và thường có mỗi liên hệ trực tiếp với sự kiện, hiện tượng mà nó phản anh, do vậy không chi nội dung ma cả hình thức của tài liệu lưu trữ cũng phản ánh thời điểm sản sinh ra tài liệu. Chính vì vậy, tài liệu lưu trữ có giá trị pháp lý, đảm bảo tính chân thực, không giả mạo. Ba là, tài liệu lưu trữ là sản phẩm phản ánh trực tiếp hoạt động của các cơ quan, tô chức và cá nhân một cách khách quan, trung thực, do đó, tự bản thân tài liệu lưu trữ có tính thuyết phục và tin tưởng cao. 15 Có thê khẳng định rằng, tại Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, tài liệu lưu trữ được đánh giá là nguồn thông tin đa dạng, phong phú, chân thực và tin cậy được khai thác, sử dụng dé phục vụ các mục đích khác nhau của xã hội trong đó có công tác văn hoá, công tác đối ngoại và các hoạt động văn hoá đối ngoại.
Khái niệm về văn hoá, văn hoá đối ngoại và ngoại giao văn hoá a) Khái niệm về văn hoá Khái niệm "văn hoá" hiện nay được định nghĩa rất khác nhau theo từng thời điểm lịch sử, từng lĩnh vực, từng mục đích khác nhau, bởi những học giả khác nhau. Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng việc khái niệm văn hoá vẫn tiếp tục được bàn cãi trên thé giới nghĩa là văn hoá đã thành một khái niệm có tính chất quan trọng ngang với kinh tế và chính trị. Văn hóa đã có mặt ở khắp mọi nơi, thâm nhập mọi lĩnh vực của đời song xã hội và thực sự van hóa đã trở thành một nhu cầu cấp thiết gắn liền VỚI cudc sống mỗi người, mỗi dân tộc và cả loài người [04, 53]. Nhằm đưa ra một định nghĩa mới về văn hóa, tại lễ phát động Thập kỉ phát triển văn hóa ngày 21/1/1998, Tổng Giám đốc UNESCO F.
Mayor nói: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng bao thế kỷ văn hóa đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thâm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khang dinh ban sac riéng cua minh [38,11]. Trong tuyên bố toàn cầu về da dang văn hoá tháng 11 năm 2001, UNESCO đã nhắn mạnh "Văn hoá là một tổng hợp các đặc điểm về tinh thần, thé chat, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hoặc một nhóm xã hội, bao hàm không chỉ nghệ thuật và văn hoc mà còn cả lỗi sống, cách thức chung sống với nhau, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng. Những đặc trưng của các yếu tố cau thành đó giúp ta phân biệt được một xã hội (hoặc một nhóm xã hội) với các xã hội (hoặc nhóm xã hội) khác"[38,1 I]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của thế giới đã phát biểu: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sông, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, 16 nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức văn hóa. Văn hóa là sự tong hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Quan niệm của Hồ Chi Minh toát lên một cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hóa, về phạm vi rộng lớn của văn hóa, về mặt biểu hiện của văn hóa trong lối sống và toàn bộ sinh hoạt của con người. Với tầm nhìn rộng lớn ấy, cách đây hơn 50 năm, Người đã nêu lên một điều mà trong những năm gần đây mới đặt ra và nhấn mạnh.
Đó là mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa với chính trị và kinh tế. Văn hóa không chỉ là sản phẩm thụ động của kinh tế và chính trị, mà văn hóa còn tác động ngược trở lại một cách mạnh mẽ vảo kinh tế và chính trị. Hồ Chí Minh đã nhắn mạnh răng mọi hoạt động văn hóa không thể đứng ngoài mà phải năm trong kinh tế và chính tri. Nếu văn hóa không thâm nhập vào kinh tế, nếu không đưa được khoa học kỹ thuật vào lực lượng sản xuất, không phát huy được thành tựu cao nhất của văn hóa trong quan hệ sản xuất, trong nhiệm vụ quản lý kinh tế và xã hội, thì kinh tế không thé phát triển được.
Nếu trong lĩnh vực chính trị, việc quan lý của bộ máy cầm quyền cũng như cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân không có ánh sáng của văn hóa soi đường thì sao có thé thành công được [04,54- 56]. b) Khai niém vé van hoa déi ngoai Bước vào thiên niên kỷ 21, UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp quốc - đã đề ra tiêu chí hành động về văn hoá toàn cầu cho thập ký đầu tiên là “đối thoại với các nền văn minh”. Do vậy, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đa phương, việc sử dụng văn hoá phục vụ mục tiêu đối ngoại dẫn đến sự ra đời của văn hoá đối ngoại. Theo Ông Phạm Sanh Châu, Vụ trưởng Vụ Văn hoá Đối ngoại và UNESCO, Bộ Ngoại giao, “văn hoá đối ngoại là tất cả các hoạt động giao lưu văn hoá của một quốc gia, dân tộc có yếu tố bên ngoài nhằm đưa văn hoá của quốc gia giới thiệu ra bên ngoài dé nâng cao hình ảnh, sự hiểu biết và tiếp thu tinh hoá bên ngoài dé làm giàu lại văn hoá quốc gia” [04, 17].
17 Ông Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cho rằng “văn hoá đối ngoại là sự giao lưu, trao đôi quốc tế của tất cả các lĩnh vực văn hoá từ văn học, nghệ thuật đến ngôn ngữ.với phạm vi rất rộng.