Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về thuốc bảo vệ thực vật 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là tên gọi chung để chỉ các sản phẩm hóa chất được dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm mục đích ngăn ngừa, phòng trừ và tiêu diệt các đối tượng gây hại cho cây trồng, cho nông lâm sản hay để điều hòa, kích thích sinh trưởng cho cây trồng từ đồng ruộng cho đến kho bảo quản.
Khái niệm về chất độc Chất độc là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá huỷ nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật bị ngộ độc hoặc bị chết (7), (8), (9). Khái niệm về độc tính Độc tính:Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lượng nhất định của chất độc đó. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật. Độc tính được chia ra các dạng: + Độc cấp tính: chất độc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thì, kí hiệu LD50 (letal dosis 50), biểu thị lượng chất độc (mg) đối với 1 kg trọng lượng cơ thể có thể gây chết 50% cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột hoặc thỏ).
Nếu chất độc lẫn với không khí (hơi độc, hay ở trong nước) thỡ được kí hiệu LC50 (letal concentration 50) biểu thị lượng chất độc (mg) trong 1m3 không khí hoặc 1 lít nước có thể gây chết 50% cá thể thí nghiệm. LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độ độc cấp tính càng cao. + Độc mạn tính (độc trường diễn): chỉ khả năng tích luỹ chất độc trong cơ thể, khả năng gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng (7), (8), (9). Phân loại thuốc bảo vệ thực vật Hiện nay có nhiều cách phân loại thuốc BVTV khác nhau như: phân loại theo nguồn góc hóa học, theo mục đích sử dụng, theo dạng thuốc, phân loại theo cách 5 xâm nhậpvà nhóm độc hay phân loại theo đối-tượng phòng-chống.
Nhằm mục đích giúp đối tượng dễ hiểu trong quá trình phỏng vấn, trong nghiên cứu này chúng tôi phân loại theo đối tượng phòng chống và độ độc của thuốc bảo vệ thực vật. Phân loại dựa trên đối tượng phòng chống: - Thuốc trừ sâu: Là những hoạt chất có tính năng diệt trừ hoặc xua đuổi côn trùng, mục đích để ngăn chặn tác hại của côn trùng đến cây trồng(10). - Thuốc trừ bệnh: Là những hoạt chất có ngồn gốc hóa học hoặc sinh học dùng cho mục đích bảo vệ cây trồng khỏi những tác nhân xâm nhập gây hại(10). - Thuốc trừ chuột: là những hợp chất hữu cơ có thành phần hóa học hoặc sinh học có tác đụng diệt trừ, xua đuổi chuột và các loại gậm nhắm khác(10).
- Thuốc trừ nhện: gồm những hoạt chất có hoạt tính chọn lọc cao chỉ tiêu diệt nhện (nhện trưởng thành và cả trứng nhện) đặc biệt là nhện đỏ gây hại cho cây trồng, thuốc trừ nhện không gây hại đến những loài thiên địch có lợi(10). - Thuốc trừ tuyến trùng: là những loại thuốc có nguồn gốc hóa học hoặc sinh học để xử lý đất và hạt giống trước khi gieo trồng, có thể dùng phương pháp hấp, xông hơi để diệt trừ mầm bệnh trong rể cây, đất, hạt giống(10). - Thuốc trừ cỏ: các loại thuốc có nguồn gốc hóa học hay sinh học có chức năng diệt trừ những giống hoang dại có khả năng cản trở sự phát triển của cây trồng, đây là nhóm có hại cho đất và môi trường nhất do đo cần phải sử dụng hết sức thận trọng(10). Phân loại theo độ độc của thuốc bảo vệ thực vật 6 Bảng 1.
Phân loại tính độc của thuốc bảo vệ thực vật theo WHO (11),(12) LD50 ở chuột Ký Màu sắc (mg/kg cơ thể) Phân loại theo WHO hiệu quy ước Qua Qua da miệng Cực độc (Extremely Đỏ <5 <50 Ia hazardous) Độc cao (Highly Vàng 5 – 50 51 – 200 Ib hazardous) Độc trung bình Xanh da 51 – 2000 201 - 2000 II (Moderately hazardous) trời Ít độc (Slightly hazardous) Xanh lá > 2000 > 2000 III cây Hiếm khi gây độc cấp tính ≥ 5000 ≥ 5000 U (Unlikely to present acute hazard) Độc tính của thuốc sẽ thay đổi tùy theo từng chủng loại thuốc, những ký hiệu này sẽ có in trên bao bì để cảnh báo người dùng. Chỉ số liều-gây chết trung-bình (medium lethal dose, MLD =LD50) thể hiện độc tính của từng loại thuốc,là liều chết 50% cho từng cá thể thí nghiệm. Giá trị LD50 càng thấp độc tính của thuốc BVTV càng cao(11),(12). Các đường xâm nhập thuốc bảo vệ thực vật vào cơ thể Thuốc BVTV tác động vào sức khỏe chủ yếu là ba đường chính: xâm nhập qua hô hấp, qua tiếp xúc trực tiếp và qua tiêu hóa.
Xâm nhập qua đường hô hấp Khi thuốc BVTV xâm nhập qua đường hô hấp, chúng xâm nhập rất nhanh và tác động chính đối với sức khỏe người tiếp xúc với thuốc BVTV.Thông qua hoạt động hô hấp, hóa chất vào mũi qua họng vào cơ quan hô hấp như phổi gây tổn 7 thương đường dẫn khí, thông qua quá trình trao đổi khí tại phổi thuốc BVTV sẽ theo vòng tuần hoàn của cơ thể, đưa chất độc đến khắp cơ thể như thận,gan, não, tim, cơ, xương da, qua sữa, bài tiết quamồ hôi,…(9), (13). Tiếp xúc qua da Hóa chất xâm nhập qua da qua 3 đường chính, đó là qua lớp biểu bì, bình thường lớp mỡ dưới da sẽ có ái lực lớn với một số loại hóa chất từ đây hóa chất tác động vào cơ thể đi vào tuần hòa mao mạch dưới da và khắp các cơ quan. Con đường thứ hai là lỗ chân lông, do điều kiện làm việc phun thuốc dưới trời nắng gây giãn nở lỗ chân lông, thuốc BVTV sẽ thấm vào cơ thể qua lỗ chân lông.Con đường thứ ba cũng là con đường nguy hiểm nhất đó là niêm mạc đặc biệt là niêm mạc mắt, miệng vì sẽ đi trực tiếp vào hệ tuần hoàn gây hại cho sức khỏe người trực tiếp tiếp xúc(9), (13). Đặc biệt khi da bị tổn thương hoặc có vết thương hở thì thuốc BVTV tác động vào cơ thể nhanh hơn(9), (13).
Qua đường tiêu hóa Thuốc bảo vệ thực vật xâm nhập qua đường tiêu hóa do thói quen khi phun thuốc thường hay hút thuốc, hoặc sau khi phun thuốc xong không vệ sinh cơ thể mà ăn uống ngay. Trường hợp khác có thể nhiễm độc qua đường tiêu hóa là do vô ý hoặc cố ý uống thuốc trừ sâu, trường hợp này thường rất nguy hiểm vì tiếp xúc với một lượng lớn chất độc trong một khoảng thời gian ngắn, thường sẽ dẫn đến ngộ độc cấp tính. Nhìn chung nhiễm độc bằng đường tiêu hóa ít xảy ra hơn trừ trường hợp uống nhầm hoặc có ý định từ trước (9), (13). Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến con người và môi trường 1.
Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đối với con người Mức độ gây độc của thuốc BVTB chủ yếu dựa vào hoạt chất và liều lượng (6). Thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể gây hại sức khỏe được chia làm 02cấp độ: cấp tính và mãn tính (11). Ảnh-hường thường gặp nhất là các loại ngộ độc cấp tính, người pha/phun thuốc không tuân thủ đúng phòng hộ khi pha/phun thuốc dẫn đến phải tiếp xúc với một lượng lớn thuốc BVTV. Năm 2009, đánh giá mức độ phơi nhiễm của người dân trồng thuốc lá tại Pakistan kết quả là đa số nông dân có nhiều triệu chứng như nhức 8 đầu, chóng mặt, nôn mửa, khó thở, yếu cơ., 33% ngộ độc nhẹ và 11% nhiễm độc vừa phải và những người này không sử dụng đầy đủ bảo hộ lao động, 31% có đi giày, 14% đeo khẩu trang và 9% đi găng tay trong khi phun thuốc (14).
Một số triệu chứng của ngộ độc cấp tính phổ biến gồm: Môt số có thể gặp những triệu chứng nhẹ như mệt mỏi, chóng mặt, đau đầu, bồn chồn. Một số có những phản ứng trên da thường là ngứa, đỏ hoặc cảm giác sưng đau. Đến những biểu hiện của tình trạng nhiễm độc nguy hiểm hơn như buồn nôn, nôn mửa, khó thở, ngất xỉu.Nghiên cứu của Bùi Vĩnh Diên, tình trạng nhiễm độc của người tiếp xúc thuốc BVTV thấy xuất hiện các dấu hiệu mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, tê bì kiến bò chiếm tỷ lệ 31,48% (15). Mỗi năm trên thế giới ghi nhận 200.000 ca tử vong liên quan đến thuốc BVTV trong đó ghi nhận nhiều nhất ở các nước đang phát triển(16).
Tại các nước đang phát triển ghi nhận cứ 100.000 nông dân sẽ ghi nhận 20 trường hợp ngộ độc cấp tính liên quan đến thuốc BVTV (17). Năm 2004, một nghiên cứu được tiến hành trên 14 tỉnh, thành phố ở Trung Quốc cho thấy có 2.261 ca bị ngộ độc thuốc BVTV đứng thứ 3 trong tổng số các nhiễm độc cấp tính (18). Ngộc độc thuốc BVTV mãn tính cũng có thể xảy ra do một số loại thuốc- BVTV và các chất-POPs có khả năng tồn tại trong các tế-bào dự trữ trong các cơ quan trong một khoảngthời gian dài gây ra những biến đổi và gây hại cho cơ thể. Thuốc BVTV sẽ được hấp thu nhanh ở ruột non, sau đó vào vào máu rồi theo hệ thống tuần hoàn đi khắp cơ thể (9), (11).
Một trong các triệu chứng điển hình là ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần-kinh như suy giảm trí nhớ, rối loạn thần-kinh trung ương, khó tập-trung, tổn thương thần kinh ngoại biên gây tê-liệt, nặng hơn nữa là tổn thương não-bộ, chất độc đặc biệt là thủy-ngân hữu cơ sau đó là đến lân- hữu cơ và Clo-hữu cơ (5). Một số thuốc BVTV và các chất POPs còn gây hại cho hệ miễn dịch của cơ thể làm cho cơ thể suy yếu không có khả năng chống chọi với bệnh tật, nghiêm trọng hơn còn có thể biến đổi gen và là nguyên nhân gây nên bệnh ung thư (5). Theo Hà Minh Trung, Viện y học lao động và vệ sinh môi trường (2010), số người tiếp xúc nghề nghiệp với thuốc BVTV ít nhất cũng tới 11,5 triệu người. Với tỷ lệ nhiễm độc thuốc BVTV mạn tính là 18,26% (19).
Tại Việt Nam theo thống kê 9 cứ 100.000 nông dân thì có 1700 người bị ảnh hưởng sức khỏe bởi thuốc BVTV bao gồm ngộ độc cấp tính và cả những bệnh mãn tính liên quan(20). Theo Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự (2010) khoảng 17,5% các trường hợp ghi nhận do tai nạn lao động trong sản xuất chè tại Thái Nguyên là do ngộ độc (21).