Mở đầu Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển chung, nhu cầu về dữ liệu ngày càng tăng, đối với mọi ngành kinh tế quốc dân nói chung, và ngành giao thông vận tải nói riêng. Hệ thống đường xá liên tỉnh, liên huyện, liên xã cần được quản lý một cách khoa học. Việc sử dụng công nghệ thông tin ngày càng quen thuộc trong ngành Giao thông vận tải. Theo phương pháp quản lý trong ngành hiện nay, các đơn vị quản lý giao thông tại các cung đường thường xuyên có báo cáo về các Sở giao thông như: lưu lượng tham gia giao thông, số vụ tai nạn xảy ra, chất lượng các cung đường, công tác bảo dưỡng duy tu, giám sát cung đường,.
Với cách tổ chức đó sẽ tốn thời gian và dữ liệu có thể không đồng bộ. Do vậy, việc ứng dụng các kiến thức về cơ sở dữ liệu phân tán để tổ chức dữ liệu về giao thông là cần thiết và có vai trò quan trọng trong công tác quản lý giao thông vận tải của chúng ta hiện nay. Luận văn chọn đề tài “Tổ chức, khai thác dữ liệu giao thông vận tải ” với mục đích tìm hiểu về tổ chức dữ liệu trên địa bàn phân tán; trên cơ sở đó phân tích, thiết kế cơ sở dữ liệu các cung đường nhằm nâng cao công tác quản lý trong ngành giao thông. Do vấn đề tổ chức, khai thác dữ liệu của ngành giao thông vận tải nói chung, của Hải Phòng nói riêng yêu cầu nhiều khối lượng công việc, trong khuôn khổ luận văn này, hạn chế chỉ với dữ liệu về cung đường bộ trên địa bàn Hải Phòng.
Trong phạm vi thực hiện của đề tài sẽ phân tích, thiết kế cơ sở dữ liệu các cung đường trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Luận văn chia thành các chương: 1. Thực trạng giao thông Việt Nam và nhu cầu tổ chức dữ liệu các cung đường trên địa bàn thành phố Hải Phòng; 2. Về Cơ sở dữ liệu phân tán; 3.
Thiết kế, xây dựng hệ thống Cơ sở dữ liệu phân tán với Visual Studio 2008, hệ quản trị Cơ sở dữ liệu SQL server. Cuối luận văn là phần kết luận và tài liệu tham khảo. z - 7- Việc tham gia ứng dụng công nghệ thông tin vào ngành giao thông vận tải đòi hỏi nhiều cố gắng. Nỗ lực sử dụng công nghệ để thu thập tình hình về giao thông vận tải nói chung, về dữ liệu các cung đường trên địa bàn thành phố nói riêng là cần thiết.
Học viên làm việc tại cơ sở đào tạo thuộc ngành giao thông vận tải, được khuyến khích thực hiện đề tài này, dù những kết quả mới chỉ là bước đầu. Những kết quả của học viên nhằm mục đích thử nghiệm, phục vụ trực tiếp công tác đào tạo trong trường. Thực trạng giao thông Việt Nam và nhu cầu tổ chức dữ liệu giao thông vận tải 1. Thực trạng giao thông ở Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng Việt nam là một đất nước có hệ thống chính trị ổn định trong khu vực và trên thế giới, là một nước chỉ có duy nhất một Đảng Chính trị lãnh đạo, tình trạng khủng bố hầu như không có.
Thế nhưng, tình trạng thiệt mạng do tai nạn giao thông thì lại quá nhiều, bình quân mỗi năm có 09 ngàn đến 13 ngàn người thiệt mạng do TNGT, thiệt hại kinh tế ước tính đến cả tỷ USD/năm bằng cả trị giá xuất khẩu lúa gạo (Việt nam có sản lượng xuất khẩu lúa gạo đứng thứ hai trên thế giới). Theo báo cáo của bộ Giao thông vận tải, tai nạn giao thông trong 10 năm qua tăng liên tục, đặc biệt từ năm 2001 tăng đột biến. Năm 2002 tai nạn đã làm chết 10.866 người, bị thương 29. Tai nạn giao thông Hệ thống đường bộ của chúng ta hầu như chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật : - Độ nghiêng, độ bám dính mặt đường, độ phẵng, tầm nhìn.
chưa đảm bảo cũng là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông. - Hệ thống đèn tín hiệu cảnh báo chỉ dẫn được thiết kế thi công chưa đồng bộ cũng là nguyên nhân làm ùn tắc giao thông ở các chổ đường giao nhau và gây ra tai nạn giao thông. Hải Phòng là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam và lớn thứ hai ở miền z - 9- Bắc, và là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị loại một trung tâm cấp quốc gia. Đến ngày 01/04/2009, dân số Hải Phòng là 1.302 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%.
Thành phố Hải Phòng có khoảng 600 tuyến đường, nằm trong 07 quận nội thành. Các con phố của Hải Phòng thường nhỏ hẹp, thường xảy ra tình trạng tắc đường vào giờ cao điểm, tuy nhiên chưa tới mức trầm trọng như thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh [08]. Giao thông Hải Phòng Theo thống kê của Ban An toàn giao thông - Sở giao thông vận tải Hải Phòng, hiện nay thành phố có 38 điểm hay xảy ra ùn tắc giao thông và gần 20 điểm “nóng” về tai nạn giao thông… Hạ tầng giao thông chưa xứng tầm: Hải Phòng có 50 tuyến phố chính nội đô, tổng chiều dài hơn 60 km cùng các tuyến Quốc lộ 5, Quốc lộ10, Quốc lộ 37 dài hơn 100 km; hệ thống tỉnh lộ dài 176 km, đường liên thôn, huyện dài gần 1000 km… Nhưng từ năm 1955 đến nay, sau 56 năm giải phóng Hải Phòng, những tuyến đường này vẫn chưa được mở rộng. Trong khi dân số thời điểm đó là 20 vạn người, còn số dân hiện nay lên tới xấp xỉ 02 triệu người, nên ùn tắc giao thông thường xuyên xảy ra [08].
Với đặc thù là thành phố Cảng biển cửa ngõ của Miền Bắc, nhu cầu vận chuyển hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng bằng đường bộ chiếm tỉ trọng lớn, đường và các nút giao thông khu vực cảng chật hẹp, thiếu các bãi đỗ xe chờ giao nhận hàng dẫn đến hiệu quả khai thác kém. Năng lực vận tải bằng đường bộ năm 2011 là 44 triệu tấn hàng hoá và không có xu hướng giảm xuống. Sự gia tăng quá nhanh của phương tiện vận tải trong khi cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ chưa đáp ứng kịp, xuất hiện nhiều vấn đề cần được giải quyết như ùn z - 10- tắc giao thông, mất an toàn giao thông, trật tự vệ sinh đô thị… [08]. Với tình hình chung ở nước ta hiện nay, công tác bảo trì giao thông đường bộ được thực hiện chủ yếu dựa trên việc đánh giá chủ quan về điều kiện hiện trạng của đường, trong khi đó mô hình HDM-4 (Mô hình quản lý và phát triển đường bộ được xây dựng và phát triển bởi Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế khác, nhằm kết hợp yếu tố kỹ thuật, kinh tế và môi trường trong phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án và phân tích chiến lược quản lý và phát triển bền vững mạng lưới đường bộ; được khuyến cáo sử dụng năm 1999) cần một lượng dữ liệu định lượng rất đồ sộ về giao thông như đặc điểm hình học đường và sự hư hỏng của mặt đường để phân tích tìm chiến lược và kế hoạch duy tu tối ưu cả về khía cạnh kỹ thuật và kinh tế trong các trường hợp khác nhau về nguồn vốn.
Do vậy cần có các kế hoạch để thu thập, quản lý và lưu trữ số liệu để ngoài việc phục vụ cho các phân tích chiến lược duy tu, còn giúp cho việc hiệu chỉnh, kiểm chứng, và cập nhập mô hình HDM-4 cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Mặt khác, một trong những yếu tố góp phần đảm bảo giao thông đô thị là việc quản lý tình trạng các cung đường. Việc thống kê đầy đủ tình trạng về các cung đường sẽ giúp cho những người quản lý thấy rõ được chất lượng qua số liệu cụ thể, chính xác, khách quan và khoa học. Từ đó đưa ra những thông báo và quyết định phù hợp.
Nhu cầu quản lý dữ liệu các cung đường trên địa bàn Hải Phòng Hiện nay, thành phố Hải Phòng có khoảng 600 tuyến đường, thuộc địa bàn 07 quận nội thành. Tổ chức, khai thác thông tin về các cung đường nhằm quản lý và xử lý kịp thời tình trạng giao thông. Mặt khác, góp phần xây dựng Ngân hàng lưu trữ dữ liệu đường bộ theo mô hình HDM, phục vụ cho công tác quản lý và bảo trì mạng lưới đường bộ kịp thời, có hệ thống và hiệu quả hơn theo chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống giao thông Việt Nam. Để phù hợp với yêu cầu trên, có thể xây dựng hệ cơ sở dữ liệu theo mô hình Hệ thống phân tán.
Dữ liệu tổ chức và lưu trữ ở vị trí khác nhau, cụ thể là tại các quận và được tích hợp lại với nhau thông qua mạng máy tính, chương trình ứng dụng làm việc trên cơ sở truy cập dữ liệu ở những điểm khác nhau đó. Kết luận chương Với tình hình thực tế về giao thông hiện nay, cần thiết xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ về các cung đường. Để phù hợp với yêu cầu trên, có thể xây dựng hệ cơ sở dữ liệu theo mô hình Hệ thống phân tán. Về cơ sở dữ liệu phân tán Một CSDL phân tán là một tập hợp nhiều CSDL có liên đới logic và được phân bố trên một mạng máy tính.
- Tính chất phân tán: Toàn bộ dữ liệu của CSDL phân tán không được cư trú ở một nơi mà cư trú trên nhiều trạm thuộc mạng máy tính, điều này giúp chúng ta phân biệt CSDL phân tán với CSDL tập trung đơn lẻ. - Tương quan logic: Toàn bộ dữ liệu của CSDL phân tán có một số các thuộc tính ràng buộc chúng với nhau, điều này giúp chúng ta có thể phân biệt một CSDL phân tán với một tập hợp CSDL cục bộ hoặc các tệp cư trú tại các vị trí khác nhau trong một mạng máy tính [03]. Mô hình CSDL phân tán Trong hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán gồm nhiều trạm, mỗi trạm có thể khai thác các giao tác truy nhập dữ liệu trên nhiều trạm khác. So sánh cơ sở dữ liệu phân tán và cơ sở dữ liệu tập trung Cơ sở dữ liệu tập trung cùng với cơ sở dữ liệu không qua thiết kế hình thành trước khi có cơ sở dữ liệu phân tán.
Hai hình thức này phát triển trên cơ sở tự phát và hệ thống tập trung. Như vậy hai hình thức này không đáp ứng được yêu cầu tổ chức và công việc trên phạm vi lớn. Cơ sở dữ liệu phân tán được thiết kế khác cơ sở dữ liệu tập trung.